Chào mừng quý vị đến với website NỐT TRẦM của Phạm Thị Tường Lang

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > TIẾNG VIỆT > Ngữ pháp >

Từ loại, cụm từ, cấu tạo từ

Từ loại, cụm từ, cấu tạo từ

[sửa] Từ loại

Cho đến nay, chủ yếu có hai phương pháp phổ biến để phân định từ loại: phân chia từ vựng của một ngôn ngữ thành hai lớp khái quát là thực từhư từ; hoặc phân chia từ vựng thành nhiều lớp cụ thể hơn với các đặc trưng xác định hơn. Đây là các cách phân chia của ngữ pháp truyền thống châu Âu. Lịch sử nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt có hai xu hướng: một xu hướng cho rằng từ vựng tiếng Việt không được định loại vì chúng không có một dấu hiệu hình thức nào cả, nói cách khác là không tồn tại từ loại trong tiếng Việt. Tuy nhiên số đông các nhà nghiên cứu tiếng Việt vẫn cho rằng tiếng Việt vẫn có từ loại và tồn tại những dấu hiệu khách quan để định loại. Và việc phân loại cũng theo hai cách: phân biệt thực từ và hư từ; phân biệt thành những lớp ngữ pháp cụ thể. Hiện nay trong tiếng Việt có thể phối hợp hai cách phân loại này.

Việc phân định từ loại tiếng Việt theo cách thứ hai thành những lớp từ cụ thể chủ yếu căn cứ vào ba tiêu chuẩn:

  1. Ý nghĩa khái quát: có tác dụng tập hợp các từ có cùng kiểu ý nghĩa khái quát thành các lớp (và lớp con); ví dụ như ý nghĩa về sự vật, về hành động, về trạng thái, về tính chất, về quan hệ,...; đến lượt ý nghĩa khái quát về sự vật lại được chia nhỏ thành ý nghĩa khái quát về vật thể (ví dụ các từ nhà, cửa, cây...), về chất thể (ví dụ nước, khí, muối...), v.v...
  2. Khả năng kết hợp, được hiểu ở ba mức độ như sau:
    1. Khả năng kết hợp của từ đang xét với với một hay một số hư từ, từ đó nói được bản tính từ loại của từ đang xét. Những hư từ trong trường hợp này được gọi là các chứng tố. Và với chứng tố, thường chỉ xác định được ba lớp từ chính trong tiếng Việt là: lớp danh từ, lớp động từ và lớp tính từ. Ví dụ: những từ có thể đứng trước các chỉ định từ này, nọ thì thuộc lớp danh từ; những từ có thể đứng sau đang, vẫn... thì thuộc lớp động từ; những từ đứng sau rất thường thuộc lớp tính từ.
    2. Khả năng kết hợp của từ đang xét được đặt trên cơ sở cách cấu tạo của cụm từ chính phụ. Với cách này, có thể xác định thêm lớp các phó từ của động từ (có nét gần gụi với các phụ từ và một số trạng từ adverd ngôn ngữ châu Âu).
    3. Khả năng kết hợp từ với từ, không chỉ tính đến các yếu tố không nằm trong cụm từ, thông qua các tiêu chuẩn sau: khả năng làm đầu tố trong cụm từ chính phụ; khả năng làm yếu tố mở rộng trong cụm từ chính phụ; không tham gia vào cụm từ chính phụ, chỉ xuất hiện ở bậc câu nhưng có thể có quan hệ với cụm từ chính phụ trong các trường hợp cụ thể.
  3. Chức vụ ngữ pháp: Khả năng giữ chức vụ ngữ pháp trong một câu thường được dùng như một tiêu chuẩn hỗ trợ cho việc phân định từ loại.

[sửa] Động từ

Động từ là từ loại chỉ một hành động, cử chỉ, hành vi nào đó của chủ thể. Ví dụ: ăn, đi, ngủ, bơi...

[sửa] Danh từ

là từ chỉ sự vật, hiện tượng, khái niệm,...

[sửa] Đại từ

Đại từ là một từ dùng để thay thế cho một danh từ hoặc một đại từ khác. Ví dụ: tôi, anh, chị, em, ông, bác, ấy. v.v.

[sửa] Số từ

[sửa] Lượng từ

Từ dùng để đếm lượng độ. Thí dụ: cái, chiếc, căn, người, con, từ, v.v.,

[sửa] Cụm từ

[sửa] Cụm danh từ

[sửa] Cụm động từ

[sửa] Cụm tính từ

[sửa] Giới ngữ

[sửa] Cấu tạo từ

[sửa] Từ ghép

[sửa] Từ láy

[sửa] Cụm danh từ

Cụm danh từ là loại tổ hợp từ do danh từ với một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành Ví dụ: ba con trâu đực, ba thúng gạo nếp,...

[sửa] Câu

[sửa] Câu đơn

[sửa] Câu ghép

[sửa] Liên kết câu

Câu chủ động

 


Nhắn tin cho tác giả
Phạm Thị Tường Lang @ 14:56 26/12/2011
Số lượt xem: 435
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến