LỊCH VÀ THỜI GIAN

LỊCH SỬ THPT TÂN BÌNH

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG THPT TÂN BÌNH
Trường THPT-VHVL Phước Sang được thành lập vào đầu năm 1978. Địa điểm : Cạnh suối Giai (Bến Bà Mụ) ấp Phước Sang, xã An Bình, huyện Đồng Phú (Sông Bé) nay là xã Phước Sang, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (dựa vào sự tài trợ của Nông trường cao su Phước Sang). Người chọn địa điểm cất trường là ông Mười Răng (Sở giáo dục Sông Bé). Tháng 5 năm 1978 Sở giáo dục chuyển học sinh và giáo viên lên địa điểm trên, đến nơi ai nấy đều sững sờ vì không thấy trường đâu mà chỉ là một bãi đất trống toàn cỏ tranh, bụi lùm lúp xúp. Lúc này Thầy Lâm Văn Triệu ( PHT) cùng các em học sinh đốn cây, cắt tranh che làm trại tạm trú, sau đó đội TNXP của Nông trường Phước Sang hợp đồng xây dựng bằng tranh tre vách đất. Bàn ghế, giường nằm của thầy trò đều bằng tre và cây rừng. Thế rồi ngày khai giảng năm học đầu tiên cũng diễn ra (20/11/1978) với một lớp 11 có 19 học sinh (4 nữ) và 3 lớp 10. Hiệu trưởng là thầy Trịnh Hữu Sắc và Phó hiệu trưởng là thầy Lâm Văn Triệu. Buổi sáng học sinh lên lớp học, buổi chiều lao động tu bổ trường lớp, nhà ở, sản xuất rau xanh, trồng mía, lao động cho nông trường để bù vào tiền lương thực mà Nông trường Phước Sang đỡ đầu. Năm học 1979-1980 học sinh thi tốt nghiệp THPT lần đầu tiên của trường đỗ 100%. Cuối năm 1979 UBND tỉnh Sông Bé cấp cho trường chiếc xe Jeep lái xe là thầy Sớm (kiêm lái xe, văn thư, thủ quỹ, tiếp phẩm). Tháng 6 năm 1980 thầy Trịnh Hữu Sắc rời trường Phước Sang để trở về quê hương Thanh Hóa. Hôm ấy thật là cảm động, học sinh tiển thầy mà rưng rưng nước mắt. Lúc này thầy hiệu trưởng mới về đó là thầy Nguyễn Đình Thư. Giữa năm 1980 thầy Triệu cũng chuyển về Sở Giáo Dục, thầy Nguyễn Văn Trâm chuyển về làm Phó Hiệu trưởng thế thầy Triệu. Trường lớp phát triển thêm, giáo viên, CNV và học sinh ngày càng đông hơn. Thầy Thư và thầy Trâm cứu nguy cho ngôi trường này. Hai thầy bàn bạc với nhau đến Công ty Cao Su Phước Hòa xin đỡ đầu và được giám đốc công ty chấp nhận. Thế rồi công ty cho xây dựng trường bán kiên cố tại ngã ba Cổng Xanh, xã Tân Bình, Huyện Tân Uyên. Tháng 4 năm 1984 chuyển toàn bộ trường Phước Sang về đây lấy tên trường là Trường kỹ thuật cao su Phước Hòa với 5 phòng học cấp 4. Năm 1987 thầy Đoàn Công Quan và thầy Nguyễn Huy cận được bổ nhiệm phó Hiệu trưởng (BGH có 1 hiệu trưởng, 3 phó hiệu trưởng). Năm 1988 trường giải thể nội trú và đổi tên trường là trường PTTH Tân Bình. Lúc này dân tranh chấp đất thế là trường phải dời qua địa điểm mới (trường THPT Tân Bình hiện nay). Năm 1990 thầy Nguyễn Đình Thư Thư về Hưu, thầy Đoàn Công Quan giữ chức vụ hiệu trưởng và xây thêm 3 phòng học cấp 4 . Năm 1992 thầy Quan chuyển về trường THPT Dân Tộc Nội Trú, thầy Nguyễn Văn Trâm giữ chức vụ hiệu trưởng đến năm 1997 thầy Trâm chuyển về THPT Phước Vĩnh (Phú Giáo). Trường THPT Tân Bình được xây dựng thêm từ năm 1997 (thầy Mai Long Nguyên giữ chức vụ hiệu trưởng). Dấu vết trường Phước Sang, Phước Hòa cũ không còn. Bây giờ là trường THPT Tân Bình. Năm 1999, thầy Nguyên chuyển về Phú Giáo, thầy Võ Thành Danh giữ chức vụ hiệu trưởng, đến năm 2001 trường được lầu hóa thật đẹp ( thầy Danh hiệu trưởng, 2 phó hiệu trưởng là thầy Phạm Văn Tích và thấy Nguyễn Văn Phong). Năm 2007-2008 thầy Võ Thành Danh chuyển về trường Huỳnh Văn Nghệ, thầy Trần Phát Hưng chuyển đến giữ chức vụ hiệu trưởng. Tháng 4/2009 Thầy Thịnh được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó hiệu trưởng Tháng 12/2009 thầy Nguyễn Văn Phong chuyển về trường THPT Lê Lợi. Lúc này, Ban giám hiệu trường chỉ có hai người: Thầy Trần Phát Hưng( hiệu trưởng), Thầy Quách Đức Thịnh ( Phó hiệu trưởng). Tháng 1/2011 cô Lê Thị Thu Vân được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó hiệu trưởng. Cô Lê Thị Thu Vân( Phó hiệu trưởng). Đến tháng 8 năm 2012 Thầy Trần Phát Hưng chuyển về làm Hiệu trưởng trường THPT Tân Phước Khánh và Thầy Nguyễn Văn Dinh về làm hiệu trưởng trường THPT Tân Bình. Như vậy năm học 2012-2013, Ban giám hiệu gồm 3 người: Thầy Nguyễn Văn Dinh (Hiệu trưởng), Thầy Quách Đức Thịnh (Phó hiệu trưởng)và cô Lê Thị Thu Vân (Phó hiệu trưởng),

Tài nguyên dạy học

LIÊN KẾT WEBSITE

HỖ TRỢ DẠY - HỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    TỪ ĐIỂN TRỰC TUYẾN


    Tra theo từ điển:



    CHUYỂN ĐỔI NGÔN NGỮ


    Chào mừng quý vị đến với website của trường THPT Tân Bình

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Bai 20: Su an mon kim loai (12 co ban)

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Đức Nhạn
    Ngày gửi: 12h:26' 06-10-2011
    Dung lượng: 9.3 MB
    Số lượt tải: 39
    Số lượt thích: 0 người
    Trường THPT Tân Bình.
    Ngu?i th?c hi?n:
    Ph?m D?c Nh?n
    Húa H?c 12
    Húa H?c 12
    Cho m?ng quý th?y cụ d?n d? gi? tham l?p.
    Cho m?ng k? ni?m ngy nh giỏo Vi?t Nam.
    Nam H?c 2009 - 2010.
    Các em quan sát các hình ảnh sau
    Tiết: 27. Bài 20: SỰ ĂN MÒN KIM LOẠI
    Ăn mòn kim loại là gì
    I. KHÁI NIỆM.
    Có mấy dạng ăn mòn kim loại, cơ chế như thế nào
    II. CÁC DẠNG ĂN MÒN KIM LOẠI.
    1. Ăn mòn hóa học.
    2. Ăn mòn điện hóa học.
    Có cách nào để bảo vệ kim loại, chống ăn mòn kim loại không
    III. Chống ăn mòn kim loại.
    Tiết: 27. Bài 20: SỰ ĂN MÒN KIM LOẠI
    I. KHÁI NIỆM.
    Do tác dụng của chất trong môi trường xung quanh, làm cho kim loại bị phá hủy theo thời gian.
    Tiết: 27. Bài 20: SỰ ĂN MÒN KIM LOẠI
    I. KHÁI NIỆM.
    II. CÁC DẠNG ĂN MÒN KIM LOẠI.
    1. Ăn mòn hóa học.
    Các em quan sát các hình ảnh sau:
    Ở nhiệt độ cao, kim loại phản ứng trực tiếp với các chất trong môi trương.
    Tiết: 27. Bài 20: SỰ ĂN MÒN KIM LOẠI
    I. KHÁI NIỆM.
    II. CÁC DẠNG ĂN MÒN KIM LOẠI.
    1. Ăn mòn hóa học.
    Các chi tiết bằng kim loại trong các động cơ đốt trong, lò đốt, lò hơi…cũng bị ăn mòn tương tự.
    Tiết: 27. Bài 20: SỰ ĂN MÒN KIM LOẠI
    I. KHÁI NIỆM.
    II. CÁC DẠNG ĂN MÒN KIM LOẠI.
    1. Ăn mòn hóa học.
    2. Ăn mòn điện hóa học.
    Tiết: 27. Bài 20: SỰ ĂN MÒN KIM LOẠI
    I. KHÁI NIỆM.
    ăn mòn kim loại là gì?
    I. Khái niệm
    ăn mòn kim loại là sự phá huỷ kim loại hoặc hợp kim do tác dụng của các chất trong môi trường.
    Bản chất của sự ăn mòn kim loại:
    M ? Mn+ + ne
    kim loại bị oxi hoá thành ion dương b?i các quá trình hoá học hoặc điện hoá.
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    II. Hai dạng ăn mòn kim loại
    1. Ăn mòn hoá học
    Ví dụ :
    Dây phanh sắt đốt trong bình đựng khí Cl2
    II. Hai dạng ăn mòn kim loại
    1. Ăn mòn hoá học
    Xảy ra khi kim loại được đặt trong môi trường khí hay trong chất lỏng có tác dụng ăn mòn trực tiếp kim loại
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    II. Hai dạng ăn mòn kim loại
    1. Ăn mòn hoá học
    Ví dụ :
    Dây phanh sắt đốt trong bình đựng khí Cl2
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại

    2Fe + 3Cl2 2FeCl3
    3Fe + 4H2O Fe3O4 + 4H2
    3Fe + 2O2 Fe3O4
    (chất khử) (chất oxi hóa)
    t0
    t0
    t0
    II. Hai dạng ăn mòn kim loại
    1. Ăn mòn hoá học
    Bản chất của quá trình ăn mòn hoá học là gì?
    Xác định vai trò của các chất trong các phản ứng trên?
    2x3e
    Bản chất của ăn mòn hoá học: là quá trình oxi- khử, trong đó các e của kim loại được chuyển trực tiếp đến các chất trong môi trường.
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    2. Ăn mòn điện hoá
    a. Khái niệm về ăn mòn điện hoá
    Thí nghiệm:

    II. Hai dạng ăn mòn kim loại
    1. Ăn mòn hoá học
    Khi chưa nối dây dẫn, lá Zn bị hoà tan chậm và bọt khí H2 thoát ra trên bề mặt lá Zn.
    Khi nối dây dẫn:
    + lá Zn bị ăn mòn nhanh
    + kim điện kế bị lệch.
    + bọt khí thoát ra ở cả lá Cu.
    dd H2SO4
    Zn
    Cu
    Zn bị ăn mòn hoá học:

    Zn + 2H+ ? Zn2+ + H2


    Hình thành pin điện hoá
    cực âm: lá Zn: Zn ? Zn2+ + 2e
    Các e di chuyển từ lá Zn sang lá Cu qua dây dẫn, tạo ra dòng điện 1 chiều.
    cực dương: lá Cu: 2H+ + 2e ? H2
    Phản ứng chung:
    Zn + 2H+ ? Zn2+ + H2
    Kết quả: Lá Zn bị ăn mòn điện hoá đồng thời với sự tạo thành dòng điện.
    -
    +
    H+
    Zn2+
    II. Hai dạng ăn mòn kim loại
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    2. Ăn mòn điện hoá
    a. Khái niệm về ăn mòn điện hoá

    Ăn mòn điện hoá là gì?
    Định nghĩa:
    ăn mòn điện hoá là quá trình oxi- khử, trong đó kim loại bị ăn mòn do tác dụng của dung dịch chất điện li và tạo nên dòng e chuyển dời từ cực âm đến cực dương.
    II. Hai dạng ăn mòn kim loại
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    2. Ăn mòn điện hoá
    a. Khái niệm về ăn mòn điện hoá
    b. Điều kiện xảy ra ăn mòn điện hoá
    Nêu điều kiện xảy ra ăn mòn điện hoá?
    - Điều kiện 1:
    Các điện cực có bản chất khác nhau:
    + Hai kim loại khác nhau
    + Kim loại - phi kim
    + Kim loại - hợp chất hoá học
    Điều kiện 2:
    + Khi bỏ dây dẫn.

    + Nếu cho 2 kim loại tiếp xúc trực tiếp với nhau.
    => Các kim loại phải nối tiếp với nhau qua dây dẫn hoặc tiếp xúc trực tiếp với nhau.(2)
    Zn Cu
    Điều kiện 3:
    Thay dung dịch điện li bằng dung dịch không điện ly
    dung dịch không điện ly
    => Các điện cực cùng tiếp xúc với dung dịch chất điện li.(3)
    II. Hai dạng ăn mòn kim loại
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    2. Ăn mòn điện hoá
    a. Khái niệm về ăn mòn điện hoá
    b. Điều kiện xảy ra ăn mòn điện hoá
    Khi đó kim loại có tính khử mạnh hơn đóng vai trò là cực âm, bị oxi hoá ? bị ăn mòn.
    II. Hai dạng ăn mòn kim loại
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    2. Ăn mòn điện hoá
    Một vật bằng gang hoặc thép
    (hợp kim Fe- C) trong không khí ẩm xảy ra hiện tượng ăn mòn theo cơ chế nào? Tại sao?
    II. Hai dạng ăn mòn kim loại
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    2. Ăn mòn điện hoá
    c. ăn mòn điện hoá học hợp kim của sắt (gang, thép) trong không khí ẩm.
    Cơ chế:
    Fe là cực âm: Fe ? Fe2+ + 2e (Fe bị oxi hoá)
    C là cực dương: O2 + 2H2O + 4e ? 4OH-
    Sau đó: Fe2+ tan vào dd chất điện li có hoà tan O2 và tiếp tục bị oxi hoá dưới tác dụng của OH- tạo ra gỉ sắt: Fe2O3.nH2O
    III. Chống ăn mòn kim loại
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    Nêu 1 số cách bảo vệ vật liệu bằng kim loại mà em biết?
    III. Chống ăn mòn kim loại
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    1. Phương pháp bảo vệ bề mặt
    * Phủ lên bề mặt kim loại một lớp sơn, dầu mỡ, chất dẻo hoặc tráng mạ, bằng 1 kim loại khác.
    III. Chống ăn mòn kim loại
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    1. Phương pháp bảo vệ bề mặt
    * Phủ lên bề mặt kim loại một lớp sơn, dầu mỡ, chất dẻo hoặc tráng mạ, bằng 1 kim loại khác.
    * Mục đích: tạo lớp bảo vệ đặc khít không cho không khí và nước tiếp xúc với lớp kim loại bên trong.
    III. Chống ăn mòn kim loại
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    1. Phương pháp bảo vệ bề mặt
    2. Phương pháp điện hoá
    Ví dụ :
    Gắn các tấm kẽm vào phía ngoài vỏ tàu biển bằng thép (phần chìm trong nước biển).
    Giải thích tại sao bằng phương pháp này có thể bảo vệ được vỏ tàu, nêu cơ chế?
    III. Chống ăn mòn kim loại
    Bài 23: Sự ăn mòn kim loại
    1. Phương pháp bảo vệ bề mặt
    2. Phương pháp điện hoá
    Zn là cực âm: Zn bị oxi hoá: Zn ? Zn2+ + 2e
    Vỏ tàu bằng thép là cực dương: xảy ra sự khử:
    O2 + 2H2O + 4e ? 4OH-
    Kết quả: Zn bị ăn mòn, vỏ tàu được bảo vệ.
    ? Phương pháp bảo vệ điện hoá là dùng 1 kim loại làm "vật hi sinh" để bảo vệ vật liệu bằng kim loại.
    CủNG Cố
    Câu 1: Chất nào sau đây trong khí quyển không gây ra sự ăn mòn kim loại?
    A. O2
    B. CO2
    C. H2O
    D. N2
    Câu 2: Phản ứng hoá học nào xảy ra trong sự ăn mòn kim loại ?
    A. Phản ứng trao đổi.
    B. Phản ứng thuỷ phân.
    C. Phản ứng oxi hoá- khử.
    D. Phản ứng axit- bazơ.
    CủNG Cố
    Câu 3: Sắt tây là sắt tráng thiếc. Nếu lớp thiếc bị xước sâu tới lớp sắt thì kim loại bị ăn mòn trước là:
    A. Thiếc.
    B. Sắt.
    C. Cả hai đều bị ăn mòn như nhau.
    D. Không kim loại nào bị ăn mòn.
    CủNG Cố
    CủNG Cố

    Câu 4:
    Một sợi dây đồng nối tiếp với một sợi dây nhôm
    để ngoài trời. Hãy cho biết hiện tượng gì xảy ra
    ở chỗ nối của 2 kim loại?
    Giải thích và cho lời khuyên.

    ở chỗ nối của 2 kim loại xảy ra hiện tượng ăn mòn điện hoá.
    Cực âm(Al): Al ? Al3+ + 3e
    Cực dương(Cu): O2 + 2H2O + 4e ? 4OH-
    Kết quả:
    Sau một thời gian dây nhôm bị ăn mòn và đứt.
    Vì vậy, tốt nhất nên nối những đoạn dây cùng chất với nhau để hạn chế sự ăn mòn điện hoá.
    BTVN
    Bài 1 đến 5 trang 136 SGK.
    Tiết học đến đây là kết thúc.
    Chào tạm biệt các thầy cô cùng các em học sinh!
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓

    print