Gốc > Mục:Giáo án > Mục:Ngữ văn > Mục:Ngữ văn 8 >
title:Giao án Ngữ văn 8 HKII
date:03-04-2008
sender:Kim Lan
source:
type:doc
Tiết 73 + 74 ( Soạn ngày 4-1-08)
Nhớ rừng
Thế lữ

I. Mục tiêu bài học:
* Giúp học sinh:
1. Học sinh hiểu được giá trị nghệ thuật đặc sắc, bút pháp lãng mạn rất truyền cảm của nhà thơ, từ đó cùng rung động với niềm khao khát tự do mãnh liệt, nỗi chán ghét sâu sắc của thực tại tù túng, tầm thường, giả dối - tâm trạng đầy bi phẫn của nhân vật trữ tình - con hổ bị nhốt ở vườn bách thú.
2. Tích hợp với phần Văn học ở bài Ông đồ, phần Tiếng Việt ở bài Câu Nghi vấn, phần tập làm văn ở bài Viết đoạn văn thuyết minh. Tích hợp (liên hệ) với thực tế cuộc sống, xã hội và tâm hồn thanh niên Việt Nam những năm 30 thế kỷ XX.
3. Rèn kỹ năng đọc diễn cảm thể thơ tám chữ vần liền, phân tích nhân vật trữ tình qua diễn biến tâm trạng.
II. Các hoạt động dạy và học:
1. ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số
2. Đồ dùng dạy học
- Sách giáo khoa - Sách giáo viên.
- Bức tranh minh hoạ bài Nhớ rừng, bức tranh minh hoạ bộ tứ bình trong bài thơ.
3. Kiểm tra bài cũ:
4. Bài mới
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
Kết quả cần đạt

Hoạt động 1

Dẫn vào bài mới.

Giáo viên nói chậm
ở Việt Nam, khoảng giữa những năm 30 của thế kỷ XX đã xuất hiện phong trào Thơ mới rất sôi động, được coi là một cuộc cách mạng trong thơ ca, một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh). Đó là một phong trào thơ có tính chất lãng mạn tiểu tư sản (1932- 1945), gắn liền với những tên tuổi những nhà thơ trẻ nổi tiếng như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử, Tế Hanh…



Hoạt động 2:

I. Đọc, tìm hiểu tác giả, giải thích từ khó, thể loại và bố cục
1. Đọc

- Đoạn 1 và 4 đọc với giọng buồn, ngao ngán, bực bội, u uất; có những từ ngữ kéo dài, một vài từ dằn giọng, một vài từ mỉa mai, kinh bỉ…
- Đoạn 2, 3 và 5: giọng vừa hào hứng vừa nuối tiếc, tha thiết bay bổng. Mạnh mẽ và hùng tráng để rồi kết thúc bằng câu thơ than thở như một tiếng thở dài bất lực.
- Chú ý đọc liền mạch câu thơ vắt dòng (bắc cầu), những câu thơ có từ để, từ với ở đầu câu.
- Giáo viên và 3 - 4 học sinh nối nhau đọc toàn bài một lần.
Giáo viên nhận xét cách đọc của học sinh.





2. Tìm hiểu tác giả Thế Lữ

Giáo viên: hướng dẫn học sinh đọc thầm chú thích (*) SGK tr6 và trình bayg gọn về tác giả Thế Lữ.




Giáo viên lưu ý nhấn mạnh (có thể nói chậm cùng lúc cho học sinh xem ảnh chân dung tác giả):

Thế Lữ tên thật là Nguyễn Thế Lữ. Bút danh của ông được đặt theo cách chơi chữ - nói lái dân gian: Thứ Lễ- Thế Lữ; còm hàm ý là người lữ khách trên trần thế, cả đời chỉ đi tìm cái đẹp, để vui chơi.
Tôi là người khách (lữ khách) bộ hành phiêu lãng.
Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi.
Tôi chỉ là một người khách chinh phu.
Dẫn bước truân chuyên khắp hải hồ…
Quê Bắc Ninh (Kinh Bắc), sống nhiều năm ở Hải Phòng, Lạng Sơn. Trước cách mạng chuyên làm báo, viết văn, thơ sáng tác và biểu diễn kịch nói. Ông là một trong những nhà thơ mới đầu tiên góp phần làm nên chiến thắng cho phong trào Thơ mới. Ngoài tập Mấy vần thơ, Thế Lữ còn viết nhiều truyện trinh thám, truyện kinh dị rất hay: Vàng và máu, Biên đường Thiên Lôi, lê Phong phóng viên… Sau cách mạng, ông chuyển sang hoạt động sân khấu và trở thành một trong những người xây dựng nền kịch nói hiện đại ở nước ta. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. (2003)



3. Tìm hiểu và giải thích từ khó

Giáo viên yêu cầu học sinh giải thích lại và hỏi thêm: Tìm những từ đồng nghĩa với hổ (hùm, cọp, ông ba mươi, chúa sơn lâm, ông kễnh), với rừng (ngàn, lâm). Tìm từ cả trong bài thơ đã học (Bạn đến chơi nhà, Ao sâu nước cả, khôn chài cá). Có thể coi từ cả ấy đồng nghĩa với từ cả trong anh cả, chị cả, không? Vì sao?
- Học sinh đọc phần chú thích, SGK, tr 6;




4. Tìm hiểu thể loại và bố cục

- Mạch cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình - con hổ trong vườn bách thú - có thể chia làm mấy đoạn? Trong những đoạn ấy, lại có thể khái quát đặc sắc về bố cục của bài thơ này như thế nào?

- Xác định thể loại thơ
* Định hướng
- Bài thơ được khơi nguồn cảm hứng trực tiếp từ những lần đi chơi, thăm vườn bách thú Hà Nội (vườn hoa Bách Thảo này nay); sâu xa hơn là từ tâm sự, tâm trạng u uất của lớp trí thức - thế hệ 1930



- những thanh niên trí thức Tây học vừa thức tỉnh ý thức cá nhân, cảm thấy bất hoà sâu sắc với thực tại xã hội thực dân nửa phong kiến tù túng, giả dối, ngột ngạt vì mất tự do thời bấy giờ. Họ khao khát được khẳng định và phát triển cái tôi trong cuộc sống tự do, rộng lớn. Đó cũng là tâm sự chung của người dân Việt Nam trong cảnh mất nước. Nhà thơ mượn lời con hổ bị nhốt trong chuồng sắt ở



vườn bách thú để diễn tả tâm trạng này. Đây là bài thơ trữ tình lãng mạn đặc sắc được viết thể thơ mới tám chữ (tiếng) /câu




- Nhịp thơ thay đổi tương đối tự do theo mạch cảm xúc 5 - 3, - 3 - 5, -3- 2, 3 - 2 - 3, 4 - 2 - 2, 4 - 4 …..



- Vần thơ: vần liền (hai câu liền, kế tiếp nhau), vần chân (tiếng cuối câu), vần trắc - bằng nối tiếp.
Cả bài dài 47 câu, chia làm 5 đoạn. Cụ thể:



- Đoạn 1: câu 1 - 8 (Gậm một khối căm hờn… vô tư lự): Tâm trạng của con hổ trong cũi sắt vườn bách thú.
- Đoạn 2 - 3: câu 9 - 30 (Ta sống mãi… nay còn đâu): nhớ tiếc quá khứ oai hùng nơi rừng thẳm.
- Đoạn 4: Câu 31 - 39 (Nay ta ôm… cao cả, âm u): Trở về thực tại, càng chán chường, uất hận.
- Đoạn 5: Câu 40 - 47 (Hỡi oai linh… của ta ơi!): Càng tha thiết giấc mộng ngàn


Lưu ý:
Như vậy, tuy bài thơ đã tự nó chia làm 5 đoạn, nhưng thực chất cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình được đặt trong thế đối lập - tương phản giữa hiện tại và quá khứ, thực tại và mộng ảo, tầm thường, đơn điệu, nhàn chán và khoáng đạt, phi phàm, tráng lệ. Những cảnh này đồng hiện trong tâm tư của con hổ đang nằm dài nơi cũi sắt ở vườn bách thú. Qua đó, tác giả thể hiện chủ đề của bài thơ. Đó cũng là nét đặc sắc về nghệ thuật bố cục của bài thơ này.



Hoạt động 3

III. Đọc và tìm hiểu chi tiết bài thơ

1. Đoạn 1: (Câu 1 - 8) Tâm trạng của con hổ trong cũi ở vườn bách thú




+ Học sinh đọc 8 câu đầu bài với giọng chậm, chán chường, u uất, uể oải; nhấn mạnh các từ, ngữ: gậm,



khối căm hờn, nằm dài, giễu, với…. Kéo dài giọng khinh bỉ mà đành chấp nhận : gấu dở hơi, vô tư lự


Học sinh tìm kiếm phát hiện phân tích lựa chọn so sánh








Giáo viên hỏi:
- Câu thơ đầu tiên có những từ ngữ nào đáng lưu ý? Vì sao?
- Thử thay các từ gậm, và khối bằng những từ khác. So sánh ý nghĩa biểu cảm của chúng.





*Định hướng
- Câu thơ mở đầu vang lên rất đột ngột, trực tiếp diễn tả hành động, tâm trạng và tư thế của con hổ trong cũi sắt vườn bách thú. Hai từ đáng lưu ý là gậm và khối. Động từ đầu tiên: gậm nghĩa là dùng răng, miệng mà ăn dần, cắn dần từng chút một cách chậm chạp, kiên trì. Động từ diễn tả hành động bứt phát của con hổ khi bị mất tự do. Nó gậm khối căm hờn không sao hoá giải được, không làm cách nào để tan bớt, vợi bớt. Căm hờn, uất ức vì bị mất tự do, thành một thân tù đã đóng vón, kết tụ lại thành khối, thành tảng, cứng như những thanh chấn song cũi sắt lạnh lùng kia. Dùng một động từ cụ thể, danh từ hoá một tính từ trìu tượng cụ thể hoá nó nhằm miêu tả tâm trạng của chúa sơn lâm, tạo thi hứng cho toàn bài, là thành công đầu tiên của tác giả.

Giáo viên hỏi:
- Vì sao hổ lại căm hờn đến thế.
- Tư thế nằm dài trông ngày tháng dần qua nói lên tình thế gì của hổ?




+ Học sinh suy nghĩ, phân tích





*Định hướng
Từ chỗ là chúa tể của muôn loài, đang mặc sức tung hoành chốn sơn lâm bóng cả cây già, nay bị nhốt chặt trong cũi sắt, trở thành thứ đồ chơi của đám người nhỏ bé mà ngạo mạn, ngang bầy với bọn dở hơi, vô tư lự - những hạng tầm thường, vô nhgiã lý. Điều đó làm cho con hổ vô cùng căm uất, ngao ngán. Thế nhưng nó không có cách gì để vượt thoát ra khỏi cái môi trường tù túng, tầm thường, chán ngắt ấy. Nó chỉ đành nằm dài trông ngày tháng dần qua, buông xuôi, bất lực, ngày đêm gậm khối căm hờn cứ lớn dần lên trong lòng nó như một khối u sầu nhức nhối. Nó khinh bỉ lũ người bên ngoài; nó cảm thấy nhục nhã vì phải hạ mình ngang hàng với bọn gấu, báo. Hổ thấm thía thân phận: Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!






+ Học sinh đọc diễn cảm toàn đoạn: chú ý giọng bồi hồi, hào sảng, hùng tráng, bay bổng, chậm rãi oai nghiêm, tự hào; những câu hỏi, những câu cảm, những câu vắt dòng, bắc cầu,


2. Đoạn 2 - 3 (câu 9 - 30) - trọng tâm: Nhớ tiếc quá khứ.
điệp từ đâu, nào đâu. đọc xong lắng lại, hình dung tưởng tượng.


+ Giáo viên treo bức tranh minh hoạ phóng to lên bảng đề học sinh ngắm, so sánh hình ảnh thơ
+ Giáo viên hỏi:
- Cảnh rừng núi ngày xưa hiện lên trong nỗi nhớ của con hổ như thế nào? Con hổ xuất hiện được miêu tả cụ thể như thế nào?
Đọc hai câu thơ
Ta bước chân lên dõng dạc, đường hoàng
Lượn tấm thâ