TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TA THẬT SỰ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, “LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH”
I. Ý NGHĨA, TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TA TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, “LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH”
1. Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam
- Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự nghiệp cách mạng của Người luôn luôn gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp cách mạng của Đảng, với vận mệnh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam.
- Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đầu thế kỷ XX, sức mạnh to lớn của dân tộc Việt Nam chỉ phát huy cao độ khi được tập hợp, đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
- Sự lớn mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 80 năm qua bắt nguồn trước hết từ việc Đảng đã lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đảng luôn luôn quan tâm công tác xây dựng Đảng; xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân, tự mình trở thành “là đạo đức, là văn minh” theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam.
2. Khẳng định vai trò, ý nghĩa chiến lược cơ bản, lâu dài của công tác xây dựng Đảng theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
- Xây dựng Đảng luôn luôn là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng. Vai trò lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc trước đây, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo đường lối đổi mới ngày nay luôn luôn đòi hỏi Đảng phải trong sạch, vững mạnh, có tầm cao trí tuệ, sức chiến đấu, đủ năng lực lãnh đạo, đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp cách mạng.
- Về bản chất, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa cách mạng và phản cách mạng diễn ra gay gắt nhất, quyết liệt nhất xung quanh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh có ý nghĩa quyết định đến việc bảo vệ chế độ chính trị, con đường phát triển của đất nước theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh”.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Tư tưởng xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, có ý nghĩa soi đường cho Đảng ta xây dựng và trưởng thành.
- Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh còn có ý nghĩa góp phần quan trọng làm tăng thêm niềm tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ anh minh của Đảng và dân tộc ta, anh hùng dân tộc vĩ đại, nhà văn hóa kiệt xuất; đồng thời, qua đó góp phần tăng thêm niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
3. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh có tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn trước mắt
- Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng là sinh hoạt chính trị toàn diện, sâu sắc của toàn Đảng. Việc học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh phục vụ trực tiếp cho đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng này. Đây cũng là dịp để tất cả các tổ chức Đảng và toàn thể cán bộ, đảng viên nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc hơn tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chăm lo công tác xây dựng Đảng, qua đó vận dụng sáng tạo vào nhiệm vụ tổ chức thành công đại hội.
- Theo kế hoạch, đại hội đảng các cấp và Đại hội XI của Đảng sẽ thảo luận và thông qua những quyết định có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước trong những năm tới. Đó là bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020… Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng để Đảng làm tốt các nhiệm vụ trên, cả trên phương diện lý luận và trong thực tiễn.
- Học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh giúp các tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên cơ sở để nhìn lại công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ vừa qua, đánh giá đúng những thành tựu, ưu điểm cũng như những khuyết điểm, hạn chế trong các mặt công tác xây dựng Đảng. Từ đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới. Qua học tập, mỗi mỗi đảng viên nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác góp phần cùng toàn Đảng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, để Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh”.
II. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TA TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, “LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH”
Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều bài nói, bài viết về công tác xây dựng Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng rất phong phú, trong đó tập trung vào những điểm chủ yếu sau :
1. Cách mạng cần có Đảng. “Đảng muốn vững phải lấy chủ nghĩa làm cốt”
- Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng Việt Nam "trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy". Thực tiễn cách mạng Việt Nam trong 80 năm qua đã khẳng định điều đó. Sự ra đời của Đảng đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc ở nước ta đầu thế kỳ XX. Sự lãnh đạo của Đảng đã là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. "Chủ nghĩa" mà Người đề cập ở đây là chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong thực tế của cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định là "chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất"; là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc trước đây và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
- Trong công tác xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Khẳng định Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý những vấn đề sau đây:
Một là, phương pháp học tập, nhận thức, nâng cao trình độ lý luận Mác - Lênin phải luôn luôn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, trình độ của từng đối tượng. Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là hiểu bản chất của các vấn đề, không kinh viện, không biến các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thành các công thức; phải hiểu đúng để hành động đúng.
Hai là, phải vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp với từng lúc và từng nơi, từng lĩnh vực; đề phòng và khắc phục cả giáo điều lẫn xét lại, xa rời các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Ba là, Đảng phải luôn luôn học tập, kế thừa những kinh nghiệm tốt của các đảng cộng sản khác, đồng thời phải thường xuyên tổng kết thực tiễn cách mạng rút ra những bài học kinh nghiệm cho mình, làm giàu trí tuệ của mình và bổ sung, làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Bốn là, Đảng phải đấu tranh chống những luận điểm cơ hội, xuyên tạc, xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng cách nâng cao tầm trí tuệ, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Năm là, Đảng ta phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin để xây dựng khối đoàn kết trong phong trào cộng sản quốc tế. Trong bản Di chúc, Người mong rằng Đảng ta “ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình".
2. Xây dựng Đảng là phải thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng
Vận dụng và phát triển những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng vô sản kiểu mới do V.I.Lênin đề ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu các nguyên tắc chủ yếu là:
2.1. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Đối với nguyên tắc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh những nội dung sau đây:
Một là, phải nhận thức rõ đây là nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất trong tổ chức và sinh hoạt Đảng. Thực hiện tốt hay kém nguyên tắc này có quan hệ đến sự tồn tại - phát triển hay không tồn tại - phát triển của bất cứ tổ chức Đảng nào từ Trung ương đến chi bộ. Thực hiện tốt nguyên tắc này để tạo thành sức mạnh đoàn kết, thống nhất của Đảng, như Người dạy: “Đảng tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”.
Hai là, tập trung và dân chủ luôn luôn đi đôi với nhau. Tập trung trên nền tảng phát huy dân chủ thật sự trong Đảng. Dân chủ là cơ sở của tập trung, dân chủ dưới sự chỉ đạo của tập trung.
Ba là, nội dung cơ bản của tập trung là: thiểu số phải phục tùng đa số; cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương, tất cả mọi đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết của tổ chức Đảng.
Bốn là, nội dung cơ bản của dân chủ là: phải mở rộng và thực hành dân chủ trong Đảng. Có bảo đảm và mở rộng, phát huy dân chủ ở trong Đảng thì mới có dân chủ ngoài xã hội.
Năm là, trong khi thực hiện nguyên tắc này, phải đề phòng và chống các biểu hiện của độc đoán, chuyên quyền, hách dịch, chụp mũ, trù dập ý kiến của người khác; đồng thời cũng cần đề phòng và chống những biểu hiện của dân chủ “quá trớn”.
2.2. Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc này thể hiện ở các điểm sau:
Một là, tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách có quan hệ khăng khít với nhau. Cũng như nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách là hai vế làm thành một chỉnh thể thống nhất trong nguyên tắc sinh hoạt Đảng.
Hai là, tập thể lãnh đạo là để phát huy trí tuệ và kinh nghiệm của nhiều người. Người lưu ý rằng, lãnh đạo mà không tập thể thì sẽ “đưa đến các tệ bao biện, độc đoán, chủ quan, kết quả là hỏng việc”.
Ba là, cá nhân phụ trách là để xác định rõ trách nhiệm thực hiện, nâng cao tinh thần và ý thức trách nhiệm. “Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy. Nếu không có cá nhân phụ trách, thì sẽ sinh ra cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong”.
Bốn là, chống thói dựa dẫm tập thể, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm, đồng thời chống độc đoán, cá nhân, coi thường tập thể.
Thực hiện nguyên tắc này theo Hồ Chí Minh càng quan trọng trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo các tổ chức khác trong hệ thống chính trị và lãnh đạo toàn xã hội, khi nhiều đảng viên có chức, có quyền.
2.3. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng ta đồng thời là “vũ khí sắc bén” để làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh. Trong việc thực hiện nguyên tắc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh một số điểm sau:
2.3.1. Về mục đích.
- Mục đích của tự phê bình và phê bình là làm cho phần tốt trong mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi; tự phê bình và phê bình cũng là để làm cho các tổ chức Đảng luôn luôn trong sạch, vững mạnh; để các tổ chức Đảng và đảng viên luôn luôn hoàn thiện mình, có chí cầu tiến bộ, vươn lên những giá trị chân, thiện, mỹ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, bất cứ ai cũng đều có khuyết điểm, chỉ khác nhau ở chỗ nhiều hay ít, nặng hay nhẹ, khác nhau ở dạng thái biểu hiện và thái độ xử lý với những khuyết điểm đó. “Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”. Nếu “sợ phê bình, tức là “quan liêu hóa”, tức là tự mãn tự túc, tức là “mèo khen mèo dài đuôi””.
- Tự phê bình và phê bình trong Đảng là để tăng cường đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng. Trong Di chúc, phần trước hết nói về Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn lại cho toàn Đảng: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”.
2.3.2. Về phương pháp tự phê bình và phê bình
Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý những nội dung sau đây:
- Tự phê bình và phê bình phải được tiến hành thường xuyên, như người ta rửa mặt hằng ngày, “được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh tật mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”.
- Tự phê bình phải thành khẩn. Tự phê bình thường khó hơn việc phê bình. Thành khẩn, thành tâm, không được “giấu bệnh sợ thuốc” sẽ giúp cho việc tự phê bình có kết quả tốt.
- Tự phê bình và phê bình phải trung thực. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới việc không “đặt điều”, “không thêm bớt”.
- Tự phê bình và phê bình phải kiên quyết, “ráo riết”, không nể nang.
- Tự phê bình và phê bình phải có tính chất xây dựng “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Người nói, phê bình "không phải để công kích, nói xấu, để chửi rủa", "chớ phê bình lung tung mà không chịu trách nhiệm"; để “giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời".
- Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nêu lên ba thái độ cần chú ý xử lý trong tự phê bình và phê bình:
Một là, “Chúng ta phải học tập tinh thần và tác phong của các đồng chí giác ngộ chính trị cao”, tự phê bình rất thật thà và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm. Khi phê bình người khác, các đồng chí ấy thành khẩn. Đối với những người có khuyết điểm nặng mà không chịu sửa thì các đồng chí ấy đấu tranh không nể nang.
Hai là, tổ chức Đảng cần nghiêm khắc mời ra khỏi Đảng những người phê bình, giáo dục mấy cũng không chịu sửa chữa khuyết điểm, “cứ ì ra”, để tránh “con sâu làm rầu nồi canh”.
Ba là, Đảng phải giáo dục, phải phê bình nghiêm khắc để giúp sửa chữa khuyết điểm với một số đồng chí khá đông “đối với người khác thì phê bình rất mạnh, nhưng tự phê bình thì quá yếu”…
2.4. Kỷ luật nghiêm minh, tự giác
- Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị có tính kỷ luật cao. Sức mạnh của một tổ chức cộng sản và của mỗi đảng viên bắt nguồn từ ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh, tự giác.
- Kỷ luật đảng yêu cầu tất cả mọi đảng viên đều phải chấp hành Điều lệ Đảng, bình đẳng trước Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, trước mọi quyết định, nghị quyết của Đảng.
- Uy tín của Đảng trong nhân dân bắt nguồn tự sự gương mẫu của mỗi đảng viên trong việc tự giác tuân thủ kỷ luật của Đảng, của Nhà nước và của các đoàn thể nhân dân mà đảng viên đó tham gia.
2.5. Đoàn kết, thống nhất trong Đảng
- Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế, trong đó đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn hết.. Trong Di chúc, Người viết: "Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một long, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh, tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con người của mắt mình”.
- Để thực hiện nguyên tắc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý:
Một là, đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải dựa trên nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, điều lệ, đường lối, quan điểm, nghị quyết của tổ chức đảng các cấp; “có lý, có tình”.
Hai là, muốn đoàn kết, thống nhất, phải thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân và các tiêu cực khác.
3. Quan tâm xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài để Đảng xứng đáng "là đạo đức, là văn minh"
3.1. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đạo đức có vai trò rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng
- Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, để Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng của đạo đức, của văn minh phải thường xuyên quan tâm giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực tế chứ không chỉ dừng lại những quy định trong điều lệ Đảng.
- Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất của đạo đức cách mạng và là một yếu tố cơ bản làm thành nhân cách của cán bộ, đảng viên. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, trung với nước, với Đảng, hiếu với dân là phải đặt quyền lợi của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết, trước hết. Cán bộ, đảng viên là người giữ trọng trách trong bộ máy của hệ thống chính trị càng cần có đức tính hy sinh cho lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
- Xây dựng Đảng về mặt đạo đức là một nội dung đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, là sự phát triển rất cơ bản và sáng tạo của Hồ Chí Minh học thuyết của V.I.Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp vô sản.
3.2. Những yêu cầu của Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên
3.2.1. Yêu cầu về phẩm chất, tư cách
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn rất mạnh vấn đề tư cách của cán bộ, đảng viên. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (năm 1927), ở trang đầu tiên, Người đã nêu 23 điều về tư cách của một người cách mệnh. Sau này, trong nhiều dịp, Người đã đề cập đến vấn đề tư cách người cách mạng với nội dung rất phong phú. Những nội dung chủ yếu có tính bao quát là:
Một là, suốt đời phấn đấu hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng.
Việc rèn luyện tư cách này phải được diễn ra trong suốt cả cuộc đời của cán bộ, đảng viên. Người nói, đã có không ít cán bộ, đảng viên trong quá trình hoạt động cách mạng đã rất kiên trung, nhưng do không chú ý rèn luyện hằng ngày, nên đã phai nhạt, thậm chí phản bội lại những lý tưởng của Đảng, làm hại sự nghiệp cách mạng.
Hai là, cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối trung thành với cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”, cán bộ, đảng viên không phải là người “làm quan cách mạng”, mà “phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Trung thành là phải hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; khi gặp khó khăn, gian khổ, trở ngại thì không hoang mang, dao động; “vô luận hoàn cảnh thế nào, lòng họ cũng không thay đổi”; phải luôn luôn có ý thức và hành động bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc; “việc gì có lợi cho dân, dù nhỏ, cũng gắng sức làm, việc gì có hại cho dân, dù nhỏ, cũng hết sức tránh”.
Ba là, cán bộ, đảng viên phải đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết và lên trước hết.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hoá, chính trị của nhân dân…”. Quan điểm có tính nguyên tắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là: “Lợi ích cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài”.
Bốn là, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức như là gốc của cây, như là nguồn của song, suối, là cái căn bản của người cách mạng. Theo Người, cái gốc, cái nguồn, cái căn bản đó không phải “từ trên trời sa xuống”, nó do phấn đấu, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà có, “như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.
Năm là, cán bộ, đảng viên phải có đời tư trong sáng, phải là một tấm gương sáng trong cuộc sống.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định sự trong sáng về đời tư có vai trò to lớn trong đạo đức cách mạng. Năm 1924, khi V.I.Lênin qua đời, Người viết: “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự sa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi”.
3.2.2. Yêu cầu về năng lực
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên những yêu cầu chủ yếu sau:
Một là, cán bộ, đảng viên phải có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân.
Đó là mặt "chuyên" trong quan hệ hồng và chuyên, mặt “tài” trong quan hệ đức và tài, có vai trò rất quan trọng, nếu không đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quyết định của đoàn thể nhân dân chỉ nằm trên giấy. Năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên thể hiện qua có quyết tâm cao, có phương pháp phù hợp, có kỹ năng thành thục trong việc lãnh đạo, vận động nhân dân…
Hai là, cán bộ, đảng viên phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, mối quan hệ Đảng - Dân là mối quan hệ máu thịt, nếu cán bộ, đảng viên xa dân, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân thì Đảng ta sẽ bị thoái hoá, biến chất, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền.
Ba là: Cán bộ phải luôn luôn học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt.
Từ quan niệm: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, người cán bộ, đảng viên không thể lãnh đạo quần chúng nhân dân một cách chung chung; chỉ có lòng nhiệt tình không thôi thì chưa đủ, mà còn phải có tri thức. Mục đích việc học tập theo Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải chỉ là để có bằng cấp, để thăng chức, mà để phục vụ Tổ quốc và nhân dân.
Bốn là, cán bộ, đảng viên phải có phong cách tốt.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong cách công tác tốt là phải sâu sát, tỷ mỉ; nắm việc lớn, phải giải quyết bắt đầu từ những việc cơ bản. Phải có đầu óc quan sát; phải chân đi, miệng nói, tay làm; bất kỳ việc gì, “Phải bắt đầu từ gốc, dần dần đến ngọn, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, chớ nên tham mau, tham nhiều trong một lúc”.
Phong cách công tác của cán bộ, đảng viên là phát huy sáng kiến, thường xuyên tổng kết công tác. Theo Người, sáng kiến là “kết quả của sự nghiên cứu, suy nghĩ trong những hoàn cảnh, trong những điều kiện rất tầm thường, rất phổ thông, rất thiết thực”. Sáng kiến là hệ quả của phong cách công tác của cán bộ, đảng viên, chú trọng đến việc thường xuyên tổng kết thực tiễn công tác.
Phong cách công tác của cán bộ, đảng viên không tách rời việc kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ công việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát.
4. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và dân
Tư tưởng Hồ Chí Minh về gắn bó giữa Đảng với dân xuất phát từ quan niệm dân là gốc. Nguồn sức mạnh của Đảng ta bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân. Đảng sinh ra từ trong lòng dân tộc; là một bộ phận của toàn thể dân tộc Việt Nam. Do vậy, yêu cầu của tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với dân là xuất phát từ bản chất, là yêu cầu tự nhiên, quy luật ra đời và phát triển của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu yêu cầu cụ thể về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân như sau:
4.1. Đảng phải thường xuyên lắng nghe ý kiến của nhân dân, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng… Mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng. Mà muốn hiểu biết, học hỏi dân chúng, thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm, phải khiêm tốn, phải chịu khó. Nếu không vậy, thì dân chúng sẽ không tin chúng ta. Biết, họ cũng không nói. Nói, họ cũng không nói hết lời”.
4.2. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên bằng hành động thực tế của mình để có niềm tin của nhân dân, chứ không phải "dán lên trán hai chữ cộng sản" là được dân tin, dân yêu, dân kính, dân phục.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ, đảng viên nhận sự uỷ thác của dân, để làm việc cho dân thể hiện sâu sắc truyền thống cộng đồng của dân tộc và có ý nghĩa thiết thực của thời đại. Đó cũng là nhân cách của nhà cách mạng, nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh; là một thông điệp cực kỳ quan trọng mà Người gửi tới tất cả mọi đảng viên.
4.3. Đảng phải nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với dân
Đó là bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo đến việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Trong Di chúc, Người dặn Đảng ta: “…Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.
4.4. Thường xuyên vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Dân là chủ và dân làm chủ. Cả hai vế dân là chủ và dân làm chủ đều quan trọng như nhau, làm thành một thể thống nhất. Dân là chủ là nói về vị thế của dân, còn dân làm chủ là nói về trách nhiệm của dân. Dân là người uỷ quyền cho Đảng, vì thế dân có trách nhiệm xây dựng Đảng.
Để nhân dân phát huy được quyền làm chủ của mình, đóng góp cho Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: 1. Phải giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ lợi ích và trách nhiệm của mình; 2. Sau đó, phải bàn bạc với dân để hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân; 3. Đặt ra kế hoạch thiết thực; 4. Tổ chức toàn dân thực hiện kế hoạch; 5. Trong quá trình thực hiện kế hoạch, phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích nhân dân giải quyết những việc khó khăn; 6. Khi thực hiện xong, phải cùng với dân xem xét lại công việc đã làm, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng.
5. Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn
- Theo Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội không tự nhiên mà có và không phải cứ tự nhận mà được. Người xác định rõ, từ mục đích phấn đấu của Đảng vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội của đất nước, Đảng phải thường xuyên quan tâm công tác xây dựng đảng, tự chỉnh đốn, tự đổi mới để Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh. Người viết: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn bản thân Đảng còn là yêu cầu của sự nghiệp cách mạng.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan niệm rất rõ trách nhiệm xây dựng Đảng khi Đảng cầm quyền và trong điều kiện hòa bình. Đầu năm 1969, khi miền Bắc mới trở lại trạng thái hòa bình do đế quốc Mỹ phải ngừng ném bom, Người đã viết tác phẩm “ Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” đăng trên báo Nhân Dân nhân ngày thành lập Đảng để nhắc nhở cán bộ, đảng viên rèn luyện phẩm chất trong điều kiện mới. Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng ta sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước thắng lợi là: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng chủ yếu trên những nội dung sau đây:
Một là, tăng cường công tác xây dựng Đảng cả về chính trị; tư tưởng; tổ chức; phương thức lãnh đạo, đạo đức, lối sống… làm cho Đảng luôn luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam.
Hai là, luôn luôn chú ý đề phòng và khắc phục những biểu hiện tiêu cực, thoái hóa, biến chất, giữ gìn Đảng thật trong sạch, vững mạnh.
Người viết: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.
Ba là, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên để đội ngũ này luôn luôn toàn tâm, toàn ý phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.
Bốn là, Đảng phải vươn lên đáp ứng kịp yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới do sự biến đổi của tình hình trong nước và quốc tế. Đảng phải chú trọng nâng cao tầm trí tuệ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình. Để làm được việc đó, Đảng phải phát huy dân chủ trong nội bộ, phát huy và tập hợp được trí tuệ của toàn Đảng, phấn đấu thực sự trở thành “đạo đức, văn minh”.
III. TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TA TRONG SẠCH, VỮNG, MẠNH, “LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH”
1. Suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
Trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo đến sự nghiệp cách mạng của Đảng, đến công tác xây dựng Đảng ta trong sạch vững mạnh, thể hiện rõ trong các điểm sau:
1.1. Sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- Trong quá trình tìm con đường cứu nước, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã gia nhập Đảng Xã hội Pháp và là người sÁng lập Đảng Cộng sản Pháp. Người đã tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế, trở thành chiến sỹ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế.