Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Trường THCS Minh Tân chào các bạn

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Bài viết > Giới thiệu chung >

    LICH SU GIAO DUC XA MINH TAN

    Lời nói đầu

     

    Hội đồng giáo dục xẫ Minh Tân trân trọng giới thiệu cuốn sách “Lịch sử xây dựng phát triển giáo dục xã Minh Tân” thời kỳ 1945 – 2008

    Trong suốt 64 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp giáo dục của nước ta nói chung, sự nghiệp giáo dục của xã Minh Tân nói riêng đã không ngững phát triển qua từng thời kỳ của cách mạng.

       

    Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Vì lị ích mười năm phải trồng cây, Vì lợi ích trăm năm phải trồng người” Đảng bộ, chính quyền, nhân dân xã Minh Tân luôn chăm lo phát triển sự nhiệp giáo dục tất cả các cấp học: Mầm ,non, phổ thông và bổ túc văn hoá. Nhân dân Minh Tân với truyền thống hiếu học, đã đóng góp to lớn sức người, sức của để xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường, thường xuyên phối hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thế hệ trẻ. Nhờ vậy nghành giáo dục xã Minh Tân không ngừng được duy trì và phát triển kể cả trong thời kỳ ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ.

        Cuốn sách: “Lịch sử xây dựng và phát triển giáo dục xã Minh Tân” cho chúng ta thấy được đội ngũ các thầy giáo, cô giáo của xã nhà không ngừng trưởng thành và lớn mạnh, đóng gốp to lớn công sức, tâm huyết của mình cho sự nghiệp trồng người trong quá trình 64 năm qua.

        Ngày nay, thực hiện đường lối của Đảng với chủ trương: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của xã Minh Tân cùng với cả nước đã và đang có bước phát triển mới để đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn giáo dục mới.

        Cuốn sách: “Lịch sử xây dựng và phát triển giáo dục xã Minh Tân” là một tư liệu góp phàn làm phong phú thêm truyền thống cách mạng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã nhà.

        Quá trìng tập hợp,  biên soạn tư liệu cuốn sách này không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong độc giả tham gia góp ý để ban biên soạn chỉnh lý và hoàn chỉnh hơn!

     

    Minh Tân, ngày 30  tháng  5  năm  2009.

                                          Chủ tịch hội đồng giáo dục xã

     

     

                                                              Nghiêm văn Sinh.

     

    Phần một

    Một số nét về xã Minh Tân

        Xã Minh Tân nằm ở phía Đông Nam thủ đô Hà Nội và huyện Phú Xuyên.

        Địa giới của xã: Phía Bắc giáp với xã Tri Thuỷ; Phía Nam giáp tỉnh Hà Nam; Phía Đông giáp xã Quang Làng; Phía Tây giáp xã Bạch Hạ.

        Trước năm 1945, xã Minh Tân gồm 6 thôn: Kim Quy; Thành Lập; Thần Quy; Mai Trang; Bái Xuyên; Đồng Lạc. Sau cách mạng tháng 8, xã được đặt tên là Minh Tân. Hiện nay xã có 8 thôn: Kim Quy; Thành Lập 1; Thành Lập 2; Thần Quy; Mai Trang; Bái Xuyên; Đồng Lạc; Tân Tiến.

        Diện tích đất tự nhiên của xã có 800,09 ha; trong đó diện tích dất canh tác là 527 ha. Dân số của xã có 14.300 người (Theo số liệu điều tra ngày    tháng    năm      ) Bình quân đất canh tác là 368m2/người.

        Minh Tân là xã chủ yếu sản xuất nông nghiệp, trước đây nhiều diện tích chỉ cấy được một vụ. Ngày nay, nhờ áp dụng tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, nhờ hệ thống thuỷ lợi tưới tiêu thuận lợi nên hầu hết diện tích đất canh tác đã cấy được hai vụ lúa và một vụ đông/năm. năng suất lúa đạt đươ=cj mức bình quân 250kg/sào. Đặc biệt, Minh Tân là một vùng đất có tiềm năng lớn về trồng rau. Ngoài sản xuất nông nghiệp, Minh Tân còn có thêm nghề mây tre đan (Bái Xuyên) và rải rác có các nghề khác như nghề mộc, thợ nề …

        Xã Minh Tân còn có chợ Bái (Bái Xuyên) được thành lập từ lâu, là đầu mối giao lưu không chỉ của xã nhà mà còn là đầu mối giao lưu kinh tế của các xã miền đông Phú Xuyên cúng như các tỉnh lân cận: Hà Nam, Hưng Yên, Thái Bình …    Xã Minh Tân có hai tôn giáo đó là: đạo phật và đạo GiaTô. Nhân dân lương giáo có truyền thống đoàn kết, chung sống hoà thuận. Sống tốt đời đẹp đạo.

        Cả xã có ba ngôi nhà thờ: Bái Xuyên; Thành Lập 1 và Đồng Lạc. Ba ngôi đình: Kim Quy; Thần Quy và Mai Trang. Cùng bốn ngôi chùa: Chùa Kim quy; chùa Thần Quy; Chùa Mai Trang và Mai Trang. Đình Kim Quy, Đình Thần Quy và chùa Thần Quy được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Các ôi đình chù trên đều được nhân dân, chính quyền địa phương chăm lo, bảo quản, trùng tu và giữ gìn di tích văn hoá do cha ông để lại.

        Nhân dân Minh Tân từ xưa đén nay luôn nêu cao và phát huy truyền thống yêu quê hương, đất nước, cần cù, sáng tạo trong lao động, sản xuất.dũng cảm trong chiến đấu chống ngoại xâm bảo vệ quê hương, đất nước.

        Nhân dân Minh Tân sỡ đi theo con đường cách mạng do Đảng, Bác Hồ lãnh đạo. Lá cờ đỏ búa niềm do tổ chức nông hội đỏ thôn Kim Quy lầm đầu tiên cắm trên cây đa đình nhân ngày quốc tế lao động 1/5/1930.

        Các thế hệ người dân Minh Tân không quản hy sinh gian khổ cùng với nhân dân cả nướcđóng góp sức người, sức của để đánh thắng Thực Dân Pháp và đế Quốc Mỹ.

        Ngày nay, trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế do Đảng ta đề sướng và lãnh đạo, với tiềm năng đất đai, sức sáng tạo, nhân dân Minh Tân đang vững vàng trên con đường xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh, tươi đẹp.

     

    Phần hai

    Giáo dục trước cách mạng tháng tám

         Trước năm 1945 (giai đoạn 1940- 1945) nền giáo dục đặt dưới sự cai trị của thực dân Pháp và chế dộ phong kiến , chúng thực hiện chính sách ngu dân , không mở trường học để dể bề cai trị lúc đó số người mù chữ trong xã Minh Tân lên đến 90%

    Nếu ở phủ , huyện bọn thực dân phong kiến có mở một số lớp học cũng chỉ giành cho con em nhà giầu có với mục đích đào tạo lớp người làm tay sai cho thợc dân phong kiến

         Với truyền thống hiếu học coả nhân dân một số thầy đồ nho có tâm huyết mở lóp dạy chữ Hán tác tư gia . Giáo dục lúc đó mang tính tự phát với hai hình thức dạy và học .ở Thần Quy cụ đồ Luật , cụ đồ trị mở lớp dạy chữ hán với khoảng 15- 20 học sinh mỗi lớp .cụ đồ Tư .cụ đồ Năm (quê ở Duy Tiên , Hà Nam ) mở lớp dạy chữ hán ở Kim Quy với 30 học sinh .ở Thành Lập có cụ Kí Hồng mở lớp dạy chữ hán tại nhà với trên 10 học sinh .Ngoài những lớp dạy chữ hán một số dạy chữ quốc ngữ hoặc vừa dạy chữ hán vừa dạy chữ quốc ngữ cũng tự phát mở ở các thôn .Thày giáo Sắc (Mai Trang ) ,thày giáo Tiến (Bái Xuyên) ,thày giáo Mục (Kim Qui ) , thày giáo Phong (Kim Qui ) mở lớp dạy tại nhà ,mỗi lớp có 20-30 học sinh

    Phần ba

    Nền giáo dục mới được hình thành

    sau cách mạng tháng tám

          Dưới sự lánh đạo của Đảng  cách mạng tháng tám năm 1945 thành công .Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời trong những ngày đầu của cách mạng . Nhân dân ta phải chống thù trong giặc ngoài đồng thời phải khắc phục nạn đói, nan mù chữ

          Thực hiện lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh . Diệt giặc dốt như diệt giặc đói , giặc ngoại xâm , nhân dân Minh Tân cùng với nhân dâm cả nước tích cực hưởng ứng phong trào xoá nạn mù chữ với phương châm ai biết chữ thì dạy , ai chưa biết chữ thì học ,các lớp xoá nạn mù chữ mở cả ban ngày và ban đêm ,lớp học đặt ở đình , chùa , nhà dân . Bàn ghế , bảng viết do học viên tận dụng như cánh cửa , giường nằm , tấm gỗ …Giấy , bút , phấn viết một phần do đoàn thể đi quyên góp phân phát cho học viên , phần do học viên tạo ra như dùng đất sét phơi khô , gạch non thay phấn viết , dùng giấy viết rồi ngâm nước gạo cho phai mực , phơi khô để dùng lại

         Khắp các đường làng , ngõ xóm có khẩu hiệu kẻ lên những tấm cót  “Diệt giặc dốt , như diệt giặc đói , giặc ngoại xâm” hoặc viết 24 chữ cái cheo ở nơi nhiều người qua lại để nhân dân dễ đọc , dễ nhớ . Lối ra vào ở các chợ dùng “Cổng sáng , Cổng mù” ai biết chữ được qua cổng sáng ,ai chưa biết chữ phải chui qua cổng mù .Các giáo viên bình dân học vụ thường sáng tác những câu thơ lục bát để học viên dễ nhớ

                       i,t hai chữ giống nhau

                       i ngẵn có chấm, t dài có ngang.

        Trong phong trào xoá nạn mù chữ, các thôn đều có những tấm gườn tiêu biểu, những chiến sĩ diệt dốt tận tuỵ với phong trào, đểin hình là ở Thần Quy có các ông: Trịnh Văn Hướng, ông Nguyễn Văn kiếm, ở thôn Mai Trang có ông Phạm Văn Đầm, Thôn Kim Quy có ông: Nguyễn Văn Hiên, ông Tô Văn Căn, ông Nghiêm Văn Lan, ông Nghiêm Văn Cận, ông Nghiêm  Văn Ba, ở Bái Xuyên có ông Bùi Văn Luật, ông Bùi Văn Tiến, ở Thành Lập có ông Nguyễn Văn Bảng. …

        Ngày 6/1/1946, ngày bầu cử quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, cùng với nhân dân cả nước, nhiều người dân Minh Tân đã thoát nạ mù chữ  phấn khởi được cầm lá phiếu bầu cử quốc hội, thực hiện quyền làm chủ của mình

        Ngoài những lớp bổ túc văn hoá , xoá nạn mù chữ các lớp vỡ lòng , lớp 1 , 2  cũng được mở giành cho lứa tuổi thiếu niên

         ở thôn Thần Qui những năm 1947 , 1948 có tới 6 lớp học từ lớp vỡ lòng đến lớp 1 ; 2 với gần 200 học sinh . Các thày giáo Vũ Trụ , Thày Hướng , Thày Chủ , Thày Gừng , Thày Hùng Bồ , Thày Phúc , Thày Quát trực tiếp dạy các lớp trên địa điểm các lớp ở đình dưới , ở nhà thày hùng bồ , ở thôn Mai Trang có hai lớp , lớp vỡ lòng và lớp một do thày Thiên , thày ánh dạy với 80 học sinh ở đình thôn Mai Trang

         ở thôn Kim Qui những năm 1948 ; 1949 có năm lớp học từ lớp vỡ lòng đến lớp 1 ; 2 với gần 200 học sinh  . Các lớp học thời gian đó do cụ Phong dạy ở dẽ đình , cụ Mục dạy ở nhà , thày Hường ( thần Qui ) , Ông Căn dạy ở quán đình Kim Qui .Đến năm 1950; 1951 có thêm thày Mẫu , thày Mền ra dạy sau khi đi dự lớp bồi dưỡng sư phạm cấp tốc ở Đại Mỗ ( Hà Đông ) về . ở thành lập có cụ Kỷ Hồng, ông Bảng dạy lớp vỡ lòng với gần 25 học sinh; Thôn Bái Xuyên cụ Luật dạy lớp vỡ lòng, lớp 1. Cụ Mục dạy lớp vỡ lòng ở thôn Đồng Lạc với gần 20 học sinh.

        Trong những năm 1950 – 1951, Thực dân Pháp tăng cường đánh chiếm đống bằng bắc Bộ, chúng mở nhiều trận càn quét, đốt phá, lập tề, lập bốt, trong đó có xã Minh Tân. Đình Kim Quy, Thần Quy nhà cửa của dân bị địch đốt phá, lấy cửa gỗ để dựng bốt, nhiều lớp học bị đốt phá, nhưng sau những trận càn quét, đốt phá của giặc, các lớp học lại được khôi phục lại,  tiếp tục học tập duy trì đến năm 1953 – 1954 đó là những cơ sở để mở các lớp phổ thông sau này.

        Năm 1951, trường cơ bản của huyện Phú Xuyên chuyển từ xã Đại Xuyên về dạy ở đình thôn Kim Quy. Trường có ba lớp, hai lớp  ba và một lớp bốn với 120 học sinh ở  các xã lân cận về học. Thầy Miễu, thầy Cẩn (quê ở Châu Can), thầy Sĩ, thầy Lễ, thầy Vũ, thầy Vượng (đào tạo ở Trung Quốc về), trực tiếp dạy các lớp cơ bản. các thầy giáo do nhà nước nuôi. Tài liệu giảng dạy ca ngợi cách mạng tháng Tám, công cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp do trên gửi về. Tháng 5/1952, trường cấp 2 huyện Phú Xuyên chuyển về dạy ở đình thôn Kim Quy. Trường do thầy Anh phụ trách (Hiệu Trưởng), Thầy Lễ, thầy Tô, cô Chương trực tiếp giảng dạy. Trường có 2 lớp 5 với 110 học sinh ở các xã trong huyện Phú Xuyên về học. Năm 1954, trường chuyển lên Quất Động (Thường Tín)

     

    Phần bốn

    Hoà Bình lập lại – Miền Bắc hoàn toàn giải phóng,

    giáo dục phát triển theo quy mô trường lớp.

    (Giai đoạn 1954-1960)

        Ngày 20/7/1954, hiệp định giơ-ne-vơ được ký kết,chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thựcdân Pháp. Hoà bình lập lại ở miền Bắc. cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới: Phục hồi kinh tế ở miền Bắc; đấu tranh thống nhất đất nước, xây dựng, phát triển giáo dục phổ thông theo quy mô trường lớp.

        Từ năm 1955 – 1956 các lớp vỡ lòng được mở ở hầu hết các thôn trong xã các em ở độ tuổi 6; 7 đều được đến lớp cả xã có 6 lớp với 210 học sinh

         Năm học 1954-1955 Trường phổ thông cấp I Minh Tân chính thức được thành lập. Trường có 10 lớp từ lớp 1 đến lớp 4  với 450 học sinh . Thôn Thần Qui có 4 lớp học ở đình dưới (có 4 lớp ) . Thôn Kim Qui có 3 lớp học ở đình Kim Qui (học ở dĩ Quán ), Đồng Lạc có một lớp 3 học ở nhà phòng, Mai Trang có một l lớp ghép (lớp 1 ; 2 ) học ở đình Mai Trang. Các thày giáo Nguyễn Tiến về Minh Tân giữ chức vụ hiệu trưởng năm học 1954 – 1955 ,thày Chương (hiệu trưởng năm 1956 – 1957 ) , thày Trần Ngọc Chu (hiệu trưởng năm 1958 – 1959), thày Vũ TRụ (Hiệu trưởng năm 1960- 19610) .Giáo viên nhà trường có các thày Nghiêm Văn Mẫu, Nghiêm Văn mền, nghiêm Văn Tẩm, Bùi Văn Luật, Trịnh Văn Thăng, Vũ văn Nghiệp, Trịnh Xuân, Phạm Ngọc ánh, Nguyễn Lường Đông, Vũ Chí Quảng .

        Đồng thời với việc thành lập trường phổ thông, ban bảo trợ học đường cũng được thành lập. Ban bảo trợ học đường gồm các cụ: Cụ Tĩnh ở thôn Thần Quy làm trưởng ban, cụ Soát, cụ Cáp (Thần Quy), cụ Suối, cụ Kỷ (Kim Quy), cụ Tuẫn (Thành Lập), Cụ Tập, cụ Dung, cụ Đào, Cụ chén (Bái Xuyên), cụ Chế (Mai Trang) cụ Tư Quát (Đồng Lạc). Nhiệm vụ của ban bảo trợ học đường là thu học phí, phát lương cho giáo viên. Vận động học sinh đến lớp, vận động người chưa biết chữ đễn các lớp học để xoá nạn mù chữ. Người biết  chữ đến học ở các lớp bổ túc văn hoá.

        Trong các năm học 1956 – 1957 và 1957 – 1958 số giáo viên còn ít. Ty giáo dục Hà Đông mở trại hè ở Đại M;ỗ (Hà Đông) để bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viêntrong tỉnh.

        Trong những năm học 1956 – 1957, ngoài việc duy trì các lớp học bình dân học vụ xoá nạ mù chữ, xã còn mở lớp văn hoá dành cho cán bộ chủ chốt trong xã. lớp bổ túc văn hoá do thầy Mẫu, thầy Trụ, Thầy Phin giảng dạy, lớp đặt ở đồng lạc và chùa Thành Lập với 11 học viên.

        Sau những năm hoà bình lập lại ở miền Bắc, giáo dục xã Minh tân nói riêng và sự nghiệp giáo dục miền Bắc nói chung không ngừng phát triển về số lượng và chất lượng giáo dục ngày một nâng cao. Chi bộ Đảng xã Minh Tân chú trọng phát triển Đảng viên trong giáo viên. Đã có sự xây dựng Đảng trong trường Minh Tân, thầy Vũ Trụ được kết nạp Đảng năm 1960, Thầy Phin, thầy Đan được kết nạp Đảng năm 1959. Các đảng viên nhà trường được sinh hoạt với các tổ Đảng ở các thôn trong xã.

       

    Phần năm

    Giai đoạn 1960 – 1965

       

    Kể từ năm học 1960 – 1961, các nhà trường phổ thông thực hiện chương trình theo hệ giáo dục phổ thông 10 năm.

        Trường phổ thông cấp 1 Minh Tân (năm học 1960 – 1961) có 23 lớp và 930 học sinh.

        Ban giám hiệu nhà trường có thầy Vũ Phin làmg hiệu trưởng thầy Nghiêm Xuân Mẫu, thẫy Nguyễn Lương Đống giữ chưc phó hiệu trưởng.

        Giáo viên gồm các thầy: Tẩm, Gác, Kỳ, Tấn, Bảo (ở thôn Kim Quy), Thầy Năm (Bái Xuyên), các Thầy Xuân, Nghiệp, Điệp, Bế, Ngọc, Thắng, Khương (Thần Quy), Thầy Tình, ánh (Mai trang). Ngoài ra còn các thầy từ các nơi khác về tham gia giảng dạy: Thầy Trình (quê Châu Can) thầy Hợi ( quê Tri Trung), Thầy Đảng (quê Thái Bình), Thầy Hải, thầy Thắng (quê Hà Nam), thầy Tình (quê Ninh Bình) …

        Một số các thầy được đào tạo theo hệ 7+1 ở trường sư phạm Đông Phù (Hà Nội) như thầy Gác, thầy Quảng, thầy Bế …

        Địa điểm đặt các lớp học chủ yếu dựa vào quán, thao xá đình (Đình Kim Quy, Thần Quy, Thành Lập), ở nhà dòng Bái Xuyên, Đồng Lạc. Cơ sở vật chất nhà trường tu sửa, trường lớp, đóng bàn ghế, bảng … chủ yếu do các cụ trong ban bảo trợ học đường đi quyên góp trong nhân dân, phụ huynh để có tiền kiến thiết trường lớp.

        Trong thời gian 1960 – 1965, nhiều trường phổ thông trong toàn huyện đã hoàn thiện không ngừng phát triển về số lượng, chất lượngdạy và học được nâng cao. Để đáp ứng nhuu cầu học tập của con em nhân dân, một số trường phổ thông cấp 2 được thành lập, như: trường cấp 2 Quốc lập ở Phú Mĩ (1957), trường cấp 2 tư thục xã Đại Xuyên (1958) trường phổ thông cấp 2 xã Hiệp Hoà (1959)

        Tháng 9 năm 1960, Ty giáo dục Hà Đông cho phép xã Minh Tân thành lập trường cấp 2 nông nghiệp. Năm học đầu tiên 1960 – 1961, trường có 2 lớp 5 với 110 học sinh. Thầy Nguyễn Văn Hổ làm hiệu trưởng, giáo viên có thầy Cường, thầy Thân (Đại Xuyên), cô Viên (Hà Nội), thầy Thì, thầy Kỳ (Nam Quất), thầy Vũ khoa (Tri Thuỷ). Hai lớp học đặt địa điểm tại chùa Thần Quy.

        Chức năng của nhà trường lúc đó vừa dạy các môn văn hoá, vừa dạy kỹ thuật nông nghiệp. Nhà trường có ruộng thí nghiệm, áp dụng kỹ thuật thả bèo hoa dâu, trồng điền thạch, ủ phân xanh đạt kết quả tốt.

        Năm học 1964 – 1965 tfường mang tên: Trường phổ thông cấp 2 xã Minh Tân và chuyển địa điểm lên Bái Xuyên (Khu cấp 1 Bái xuyên học hiện nay).

        Số lớp, số học sinh khối vỡ lòng ngày càng phát triển, năm hoc 1961 – 1962 cả xã có 8 lớp vỡ lòng với 250 học sinh, thầy Phạm Xuân Bình ở Mai Trang làm khối trưởng. Giáo viên giảng dạy có thầy Mục, cô Trầm (dạy ở thôn Kim Quy + Thành lập), thầy Nhạc (thầy Chí dạy ở Bài Xuyên), thầy Phúc, cô Trại (dạy ở Thần Quy), thầy Bình (dạy ở Mai Trang).

        Địa điểm học xen lẫn với các lớp phổ thông. học sinh đóng mỗi em 6 hào/1tháng. lương giáo viên từ 1 đồng đến 1,5 đồng/ tháng. Khối vỡ lòng sinh hoạt riêng.

        Các lớp bổ túc văn hoá vẫn duy trì, phát triển. Trong thời gian này, bổ túc chưa  có giáo viên chuyên trách, giáo viên phổ thông trực tiếp dạy các lớp bổ túc văn hoá. Thầy Gác, thầy Mẫu, thầy Tẩm (thôn Kim Quy, Thành lập), thầy Nghiệp, thầy Thông (Thần Quy)…. Năm 1964 – 1965, tại chùa thôn Kim quy mở lớp bổ túc văn hoá dành cho các tăng ni ở các chùa miền đông Phú Xuyênvề học tập. Lớp có 11 học viên, do thầy Kỳ (Nghệ An), thầy Gác, thầy Mẫu trực tiếp giảng dạy.

        Tháng 2 năm 1964,  trên miền Bắc có phong trào thi đua: Học tập, tiến kịp các điển hình tiên tiến: Gió đức phong (nông nghiệp), cờ ba nhất, sóng duyên Hải, Trống Bác Lý. Từ đó, các trường học trong đó có trường có trường Minh Tân đẩy mạnh phong trào thi đua “Hai tốt” Dạy tốt – Học tốt. Thực hiện phương châm nguyên lý giáo dụchọc đi đôi với hành. Lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với gia đình và xã hội.

        Tháng 10/1964, Đảng uỷ xã Minh Tân quyết định thành lập chi bộ nhà trường cấp 1, cấp 2; đồng chí Vũ Phin được bầu làm bí thư. Chi bộ có 7 Đảng viên.

        Chi bộ nhà trường được thành lập nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các hoạt động dạy và học của nhà trường. đẩy mạnh phong trào thi đua thực hiện hai tốt. đáp ứng nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đồng thời hết lòng chi viện sức người, sức của cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước.

       

    Phần sáu

    Giáo dục trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại bằng không quân

    của giặc Mỹ (giai đoạn 1965 – 1975)

     Năm 1965, cả nước có chiến tranh, thực hiện nghị quyết lần thứ XI của BCH trung ương Đảng ở miền Bắc, mọi hoạt động phải kịp thời chuyển hướng, đảm bảo phương châm vừa sản xuất, học tập, vừa chiến đấu tăng cường lực lượng quốc phòng bảo vệ miền Bắc XHCN, hết lòng chi viện cho miền Nam ruột thịt.

        Thực hiện chỉ thị của cấp trên, Đảng uỷ, UBND xã Minh Tân kịp thời quyết định và có phương án cho các nhà trương f phân tán các địa điểm, lớp học, đảm bảo số lượng, chất lượng học tập trong mọi tình huống.

        Với quyết tâm của giáo viên và học sinh, được phụ huynh, nhân dân tích cực đóng góp công của, vật liệu. Tháng 10 năm 1966, nhà trường cấp 1, cấp 2, vỡ lòng, BTVH được sơ tán về các thôn trong xã.

        ở Kim Quy có 3 lán học: Ruộng bà Đợi; sau đình và đặt ở nhà ông Nghị, Đội 8.

        ở Thần Quy có 3 lán: Ngoài bãi, khu vực trường học bây giờ.

        ở Mai Trang có 2 lán. Các lớp ở Bái Xuyên được sơ tán vào nhà Mụ. Các khu vực trường cũ: Đình, chùa chỉ để lại một, hai lớp có hầm hào đảm bảo.

        Trường cấp 2 được sơ tán vào thôn Bái Xuyên (1 lán học vường nhà cô Hợi) một lán khu Đồng Lạc (Nhà ông Điều), ở khu trường chính tăng cường hầm hào cho lớp ở lại học ở khu trường.

        Các lớp học đều chọn địa điểm thích hợp và đều làm bằng tre tươi, mái lợp gianh  lá mía. Trần lán, cửa ra vào có lùm rơm che chắn. xung quanh lán đắp tường đất dày 1,5m cao 1,2m. Cửa lớp học thông ra hệ thống giao thông hào tới các hầm chữ A. Hầm chữ A được làm bằng cọc tre tươi dài 2m – 2,5m đóng xuống đất, ngoài hầm lấp đất dầy 1m. hầm  có lối thoát hiểm. Trong thời kỳ sơ tán để làm các lán học, hầm hào nhân dân đóng góp gần 10000 cây tre, 10 tấn rơm, rạ, 3600  ngày công.

        Học sinh đi học từ nhà đến trường đều phải đội mũ rơm để phòng tránh bom bi của giặc, lúc đó, việc dạy và học gặp nhiều khó khăn, gian khổ. Song với tinh thần: “Đi học là thẵng Mỹ, Học tốt  là dũng sĩ” 29 lớp từ vỡ lòng đến lớp 4, 9 lớp cấp 2 vẫn duy trì việc dạy và học đều đặn trong suốt thời kỳ chiến tranh phá hoại bằng không quân của giạc Mỹ.

        Ngoài nhiệm vụ “dạy tốt, học tốt” giáo viên và học sinh trường cấp 2 Minh Tân còn tích cực tham gia lao động giúp dân thu hoạch lúa, áp dụng khoa học kỹ thuật vào thả bèo hoa dâu, chế biến phân xanh, trồng cây (Phi lao, Bạch đàn …) trên đường đi lại phòng tránh máy bay địch.

        Các đoàn thể như đoàn thanh niên, đội thiếu niên và nhi đồng được thành lập, tăng cường tinh thần làm chủ và tự quản của học sinh trong tình huống trường lớp phân tán, nhiều lớp các em tự quản tốt. (Theo dõi sĩ số hàng ngày, trực nhật, bảo quản và sử dụng túi thuốc …)

        Trong những năm 1966 – 1970, địch tăng cường bắn phá miền Bắc, Hà nội và các thành phố lớn ở Miền Bắc phải sơ tán triệt để. Các nhà trường ở vùng nông thôn, trong đó có trường Minh Tân phải tiếp nhận số học sinh ở Hà Nội và các thành phố khác sơ tán về. Một số giáo viên biệt phái được cử về trực tiếp giảng dạy ở địa phương. Do vậy, số lượng học sinh tăng lên, có địa điểm phải học ba ca. Tuy găp nhiều khó khăn, vất vả, xong cán bộ quản lý, giáo viên luôn bám trường, bám lớp, bám học sinh gẵn bó với các phong trào sản xuất, sẵn sàng chiến đấu ở địa phương, đẩy mạnh phong trào thi đua hai tốt, thực hiện lời Bác Hồ kêu gọi ngày 15/10/1968: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt.”

        Trong điều kiện cả nước có chiến tranh song các lớp học bổ túc văn hoá vẫn duy trì học tập cùng với các lớp học phổ thông. Thầy Nguyễn Văn Du (Hà Nam) được điều về xây dựng phong trào và dạy các lớp bổ túc  văn hoá cùng giáo viên phổ thông. cả xã có ba lớp bổ túc văn hoá với 90 học viên, Các lớp bổ túc văn hoá được học ở văn phòng UBND xã (Thôn Đồng Lạc) Chùa Kim Quy và chùa Thành lập 2.

        Thực hiện hai nhiệm vụ: Xây dựng CNXH ở miền Bắc; chi viện sức người, sức của cho miền Nam. Phong trào ghi tên tình nguyện ba sẵn sàng của thanh niên; ba đảm đang của phụ nữ được các thầy, cô giáo trường Minh Tân tích cực hưởng ứng. Năm 1967 – 1968, Một số các thầy giáo tình nguyện lên đường nhập ngũ lên đường vào chiến trường miền Nam như thầy: Nghiêm Xuân Tạ, NghiêmâuXuân Mẫu (Kim Quy) Thầy: Vũ Chí Quảng (Thần Quy), Thầy Nguyễn Quang Thắng; Trần Kiến Cảnh (Hà Nam); thầy: Nguyễn văn Đảng; Nguyễn Văn Khắc (Thái Bình). Thầy  Nguyễn Văn Tình (Đan phượng), cô Nguyễn Thị Huân đi thanh niên xung phong vào phục vụ chiến trường Quảng Trị. Thầy Trần Kiến Cảnh và Nguyễn Văn Tình đã anh dũng hi sinh. Thầy Nghiêm Văn Tạ bị thương, sau khi phục viên, thầy tiếp tục về trường Minh Tân giảng dạy.

        Để có đủ giáo viên giảng dạy thay thế nam giáo viên ra mặt  trận, chính quyền và nhà trường vận động các chị: Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Hẹn, Trịnh Thu Hoài (Thần Quy), Phạm Thị Huyền (Mai Trang) Nghiêm Thị Ngọ, Nghiêm Thị Dân, Trần Thị Nam, Nguyễn Thị Huân (Kim Quy) ra dạy học thay các thầy nhập ngũ. Các chị được đi học lớp sư phạm cấp tốc do phòng giáo dục huyện Phú Xuyên mở ở xã Chuyên Mỹ (Phú Xuyên) để về giảng dạy.

        Theo yêu cầu của công tác tổ chức sắp xếp cán bộ quản lý và giáo viên giảng dạy phù hợp với thời chiến. Cúng như các trường khác, những năm 1967 – 1971, cán  bộ quản lý, đội ngũ giáo viên trường Minh Tân luôn thay đổi, nhất là đối với cấp 2. Thầy Hổ làm hiệu trưởng trường phổ thông cấp 2 từ năm 1960 đến 1965, Thầy Nguyễn Văn Phả làm hiệu trưởng trường cấp 2 từ năm 1965 đến 1967, Thầy  Tô Văn Khoa – hiệu trưởng trường cấp 2 từ năm 1967 đến năm 2972, thầy Ngô Mạnh Sứ hiệu trưởng trường cấp 2 năm 1972 – 1973, thầy Vũ Duy Dương làm hiệu trưởng năm 1973 – 1974, thầy Tạ trọng Uyển làm hiệu trưởng từ năm 1974 đến năm 1976.

        Tháng 10/1972. thầy Tô Văn Khoa và thầy Nguyễn Văn Xưởng được điều động đi công tác B chi viện cho vùng giải phóng tỉnh Quảng Ngãi. Trong khi đang làm nhiệm vụ, thầy Xưởng bị thương hỏng một mắt ở trường cấp 2 Sơn Tịnh – tỉnh Quảng Ngãi. tháng 11/1975, thầy Xưởng được kết nạp Đảng tại ty giáo dục Nghĩa Bình, thầy được công nhậ là thương binh và chuyển ra Bắc công tác tại trường Minh Tân.

        Thầy Tô Văn Khoa công tác ở trường bổ túc công nông Quảng Ngãi và được điều ra Bắc công tác ở trường Minh Tân từ tháng 9/1976.

        * Về chất lượng giáo dục:

        a/ Trường phổ thông cấp 1 Minh Tân.

        Đến năm học 1969 – 1970, trường phổ thông cấp 1 Minh Tân đã phát triển hoàn chỉnh, thầy Vũ Phin làm hiệu trưởng, thầy Nghiêm xuân Mẫu, thầy Nguyễn Lương Đỗng làm hiệu phó, tổng số có 27 thầy cô giáo, to-àn trường có 289 lớp và 1100 học sinh. Trường có 5 khối chuyên môn (Khối vỡ lòng, khối 1,2,3 và 4) do khối trưởng phụ trách. Chất lượng giáo dục được quán triệt và thực hiện qua các hoạt động của nhà trường. Công tác dự giờ, thăm lớp được tiến hành thường xuyên theo quy định, phong trào làm đồ dùng trong giờ dạy được các khối chuyên môn thực hiện có hiệu quả, nhất là khối vỡ lòng. Cuối năm học, học sinh lớp 4 lên lớp 5 đạt 90% - 95%; học sinh tiên tiến đạt 35%; nhà trường chọn được 5 giáo viên giỏi cấp trường và 2 giáo viên giỏi cấp Huyện; giáo viên tiên tiến đạt 40%.

        Xuất phát từ số lượng học sinh ngày càng tăng trên địa bàn rộng, tháng 7/1971, được sự nhất trí của Đảng Uỷ, UBND xã Minh Tân, Uỷ ban nhân dân huiyện Phú Xuyên quyết định tách trường phổ thông cấp 1 Minh Tân thanmhf hai trường: Trường phổ thông cấp 1 Minh TânA và Minh TânB.

        Trường phổ thông cấp 1 Minh TânA thuộc khu vực Thần Quy, Mai Trang. Trường có 12 lớp và 450 học sinh. Thầy Vũ Phin làm hiệu trưởng, thầy Trịnh Xuân làm phó hiệu trưởng.

        Trường phổ thông cấp 1 Minh TânB thuộc khu vực Kim Quy, Thành Lập, Bái Xuyên. Trường có 16 lớp và 620 học sinh. Hiệu trưởng nhà trường do thầy Nguyễn Lương Đống đảm nhận, thầy nghiêm Xuân Mẫu làm phó hiệu trưởng.

        Đến tháng 9/1975, hai trường phổ thông cấp 1 lại sáp nhập thành một trường, thầy Vũ Phin làm hiệu trưởng, thầy Nghiêm Xuân Mẫu, thầy Nguyễn Lương Đống làm phó hiệu trưởng.

        b/ Trường phổ thông cấp 2 Minh Tân:

        Trong hoàn cảnh cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên không ổn định, lớp học phân tán. song các hoạt động dạy và học của nhà trường vẫn vào nếp, số lượng học sinh được duy trì, chất lượng giáo dục được nâng cao.

        Từ năm học 1969 – 1970 đến năm 1974 – 1975, trường phổ thông cấp 2 Minh Tân có 9 – 10 lớp với khoảng 500 học sinh theo học. Các lớp học, lán học, khu nhà ở tập thể của giáo viên được sửa sang gọn gàng, sạch sẽ, phù hợp với điều kiẹn thời chiến.

        Tổng số giáo viên  nhà trường lúc đó có khoảng 15 – 16 thầy, cô giáo. hoạt động chuyên môn của hai tổ tự nhiên và xã hội và nề nếp, cán bộ quản lý tăngn cường bàm trường, bám lớp, quản lý thời gian, chương trình, nội dung giảng dạy các môn học. Đảm bảo dự giờ thăm lớp, kỉêm tra chuyên môn thường xuyên theo kế hoạch quy định.

        Các đoàn thể như: Công đoàn; Đoàn thanh niên; Đội thiếu niên hoạt động tốt, công tác tự quản của học sinh ngày càng tiến bộ. Cuối năm học, học sinh hết cấp 2 đạt 90% - 95%. Học sinh tiên tiến đạt 25% - 30%. Giáo viên tiên tiến đạt 35%. Có 5 giáo viên được công nhận là giáo viên giỏi. Nhiều năm học, trường cấp 2 Minh Tân đạt đanh hiệu trường tiên tiến của huyện.

     

    Phần bẩy

    Giáo dục tiếp tục củng cố và phát triển.

    (1976 – 1991)

        Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhâ dân ta giành thắng lợi vẻ vang, đất nước hoàn toàn thống nhất, Sự nghiệp giáo dục được củng cố và phát triển trên phạm vi cả nước.

        1. Cơ sở vật chất nhà trường.

        Sau những ngày đất nước thống nhất, trường lớp, nhà trường Minh Tân còn sơ sài, tạm bợ làm bằng gianh, tre hoặc học nhờ đình, chùa. Nhu cầu học tập của nhân dân ngày một cao.

        Nhận rõ vai trò, vị trí của sự nghiệp giáo dục trong thời kỳ mới, Đảng uỷ, chính quyền xã Minh Tân tập trung chỉ đạo xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường. Trong những năm 1976 – 1978, xã Minh Tân đã xây dựng 20 phòng học cấp 4 khá kiên cố, thay thế cho lớp học bằng gianh tre. (Khu vực Kim Quy 11 phòng; Khu vực Thần Quy 6 phòng; khu vực Mai Trang 3 phòng), cùng với 4 phòng học ở khu Bái Xuyên được xây dựng từ năm 1964, số tiền xây dựng các lớp học là:                đ

    Do ngân sách của xã, của phụ huynh, nhân dân đóng góp. Và do giáo viên, học sinh (chủ yếu giáo viên, học sinh trường cấp 2) lao động, đóng gạch đun bằng lò dã chiến. Như vậy toàn xã có 4 điểm trường lớp: Thần Quy; Kim Quy; Mai Trang và Bái Xuyên. Cônậótc quản lý, chỉ đạo việc dạy và học thuận lợi hơn trước.

        Để tạo điều kiện cho học sinh đi lại thuận lợi, được sự nhất trí của Đảng uỷ, chính quyền xã và cấp trên, từ năm học 1978, các lớp cấp 2 học ở hai địa điểm: Thần Quy va Kim Quy. (đến năm 2000, trường cấp 2 tập trung về khu Mai Trang.)

        2/ Thời kỳ trường sát nhập cấp 1 với cấp 2 thành lập trường phổ thông cơ sở. (PTCS)

        Năm học 1977 – 1978, trường phổ thông cấp 1 và trường phổ thông cấp 2 được sát nhập thành trường Phổ thông cơ sở xã Minh Tân theo hệ thống giáo dục 12 năm. trường có 44 lớp (Cấp 1 có 32 lớp, cấp 2 có 12 lớp) với 1760 học sinh.

        Ban giám hiệu nhà trường có thầy Tô Văn Khoa làm hiệu trưởng , các thầy: Nguyễn Văn Xưởng, Nguyễn văn Phép, Vũ Phin, Nghiêm Xuân Mẫu  làm phó hiệu trưởng. Nhà trường có 55 giáo viên, hoạt động theo các khối 1,2,3,4,5 và tổ tự nhiên, tổ xã hội do khối trưởng phụ trách.

        Sau ngày giải phóng Miền nam (30/4/1975), Các tỉnh miền nam thiếu nhiều giáo viên làm công tác quản lý và giảng dạy. Một số thầy giáo ở Minh Tân lại sãn sàng lên đường chi viện cho miền Nam. Năm 1975, thầy Nguyễn Sinh Khí và công tác cho phòng giáo dục - đào tao huyện Châu Thành (Tây Ninh). Tháng 11 năm 1980, thầy thầy lại trở về công tác tại trường Phổ thông cơ sở Minh Tân. Năm 1976, thầy Phạm Ngọc Thạch chi viiện cho tỉnh Tây Ninh; thầy Nguyễn Lương Duy chi viện cho tỉnh Sông Bé.

        Trong những năm 1976 - 1977, hưởng ứng phong trào đi khai hoang, nhiều gia đình Minh Tân chuyển lên tỉnh Thái Nguyên khai hoang, Thầy Trịnh Xuân, thầy Vũ Văn Thắng được điều động lên Thái Nguyên công tác giảng dạy cho số học sinh theo gia đình đi khai hoang.

        Năm 1978 – 1979, Hội đồng giáo dục xã Minh Tân được thành lập, đồng chí chủ tịch uỷ ban nhân dân xã làm chủ tịch hội đồng giáo dục; đồng chí phụ trách khối văn xã, hiệu trưởng các trường, đại biểu phụ huynh học sinh làm uỷ viên. Hội đồng giáo dục xã chỉ đạo, giám sát hoạt động giáo dục theo kế hoạch phát triển giáo dục xã đề ra.

        Năm học 1983 – 1984, trường phổ thông cơ sở Minh Tân thực hiện chương trình cải cách giáo dục (CCGD) thay sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 5. Giáo viên phụ trách giảng dạy từ lớp 1 đến lớp 5 lần lượt đi học phương pháp giảng dạy theo sách giáo khoa mới. Các khối chuyên môn tăng cường dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm giảng dạy, xếp loại giáo viên về chuyên môn, phong trào làm đồ dùng, sử dụng đồ dùng giảng dạy được các giáo viên ở các khối tổ thực hiện có kết quả, mỗi năm học có tổ chức thi đồ dùng giảng dạy đưa vào tiêu chuẩn xếp loại giáo viên.

        Từ năm 1978, bộ giáo dục - đào tạo phát động phong trào: Rèn chữ viết và giữ gìn sách vở (VSCĐ), ở các khối 2,3,4,5. Tháng 3/1979, trường PTCS Minh Tân được công nhận đạt tiêu chuẩn về VSCĐ.

        Theo quyết định số 167QĐ-HĐBT, lấy ngày 20/11 hàng năm là ngày nhà giáo Việt Nam. Ngày 20/11/1982, Uỷ ban nhân dân xã Minh Tân và hội đồng giáo dục tổ chức trọng thể kỷ niệm lần thứ nhất ngày nhà giáo Việt Nam. Tuyên dương, khen thưởng các thầy cô có thành tích trong việc dạy chữ, dạy người. đồng thời thể hiện truyền thống tôn sư, trọng đạo của dân tộc ta.

        3/ Giáo dục trong thời kỳ đổi mới (1986 – 1991)

        Tháng 2/ 1986, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đưa ra đường lối đổi mới trong các lĩnh vực tư duy, đổi mới tổ chức, đổi mới phong cách lãnh đạo, năng lực quản lý.

        Quán triệt đường lối đổi mới mà đại hội Đảng VI đề ra, ngành giáodục, các nhà trường tăng cường công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, văn hoá theo tiêu chuẩn hoá đội ngũ giáo viên. Trong 5 năm (1986 – 1990) các thày cô giáo trường PTCS Minh Tân tích cực đi học các lớp bồi dưỡng văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ theo hệ chính quy và hệ tại chức, Kết quả đến năm 1991, có 35 giáo viên có bằng sư phạm trung cấp và 18 giáo viên có bằng sư phạm cao đẳng, đại học.góp phần nâng cao năng lực quản lý,  giảng dạy của đội ngũ giáo viên.

        Nội dung, phương pháp giảng dạy từng bước được đổi mới, sách giáo khoa được thay dần từ lớp 1 đến lớp 9, phương pháp dạy và học được cải tiến nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, độc lập suy nghĩ của học sinh, loại bỏ phương pháp dạy đọc, ghi của giáo viên; học tủ, học lệch của học sinh.

        Nàh trường PTCS Minh Tân có phòng đồ dùng giảng dạy để giáo viên thực hiện các tiết thực hành, thí nghiệm nâng cao chất lượng giờ dạy. Trong 5 năm học (1986 – 1991), chất lượng các mặt giáo dục được nâng cao, các lớp lên lớp đạt 90 đến 95%. Hơn 700 em học sinh được công nhận là cháu ngoan Bác Hồ. 250 em đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp trường, cấp huyện. Có 5 em đạt học sinh giỏi cấp tỉnh môn toán, lý, sinh.

        Đội ngũ giáo viên có 30 đến 35% đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp trường, cấp huyện, nhà trường được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục cấp 1 năm 1990, liên tục được công nhận là trường tiên tiến cấp huyện. Chi bộ nhà trường kết nạp được thêm 3 Đảng viên, đưa số Đảng viên trong chi bộ lên 17 Đảng viên. Các đoàn thể, công đoàn, đoàn thanh niên, đội thiếu niên tiền phong được củng cố vững mạnh, hoạt động có kết quả tốt.

        Tháng 9/1983, thầy Vũ Phin, thầy Nghiêm Xuân Mẫu có quyết định về nghỉ hưu. Tháng 11/1991, thầy Tô Khoa về nghỉ hưu, thầy nguyễn Văn Xưởng được đề bạt làm hiệu trưởng. Thầy Nghiêm Đức Hợp, cô Nguyễn Thị Dung được đề bạt làm phó hiệu trưởng.

      

    Phần Tám

    Giáo dục trong thời kỳ mở cửa,

    hội nhập kinh tế (1992 – 2008)

    Tháng 9 năm 1992, uỷ ban nhân dân huyện Phú Xuyên quyết định tách trường phổ thông cơ sở thành trường trung học cơ sở và trường tiểu học cùng với trường mầm non.

         A/ Trường trung học cơ sở.

        1) Tháng 12 năm 1992, theo sự chỉ đạoc của tổ chức Đảng uỷ xã, chi bộ trường THCS Minh Tân mở đại hội thnàh lập chi bộ, đồng chí Nguyễn Duy Toàn được bầu làm bí thư, chi bộ gồm 8 Đảng viên.

        Tháng 9 năm 1993, thầy Nguyễn Văn xưởng được đề bạt làm Hiệu trưởng. Tháng 9 năm 1994, thầy Xưởng nghỉ chuấn bị nghỉ hưu, thày Tô Quang Triều được đề bạt làm Hiệu Trưởng ; Phó hgiệu trưởng do thày Nguyễn Sinh Khí đảm nhiệm.

        Tháng 10 năm 2006, thầy Tô Quang Triều nghỉ hưu, thầy Nguyễn Sinh Khí được đề bạt làm hiệu trưởng, thầy Nguyễn Văn Đông, thầy Phạm Văn Trụ được đề bạt làm phó hiệu trưởng.

        2) Số lớp, số học sinh được duy trì và phát triển.

        Từ năm học 1995 – 1996, trường THCS Minh Tân có 18 lớp với 632 học sinh, đến năm 2001 -2002, trường phát triển lên 21 lớp với 937 học sinh. Đặc biệt, năm học 2003 – 2004, là năm học có số lớp và số học sinh cao nhất với 22 lớp và 982 học sinh. Năm học 2007 – 2008 có 16 lớp với 740 học sinh.

        Số giáo viên năm cao nhất:

        3) Chất lượng các mặt giáo dục được nâng cao.

        Trong thời gian 13 năm học (1995 – 2008), các chỉ tiêu qua mỗi năm học đều đạt được:

    a/ Số giáo viên đạt chuẩn quốc gia:

    Số giáo viên đạt trên chuẩn quốc gia:

    Nhà trường có 04 giáo vien dạy ngoại ngữ (Tiếng Anh)

    b/ Học sinh lê lớp: đạt từ 95% đến 98%.

    Học sinh tiên tiến:

    Học sinh giỏi toàn diện:

    Học sinh giỏi cấp huyện:

    Học sinh giỏi cấp tỉnh:

    Học sinh tôt nghiệp lớp 9 đạt:

    Học sinh lớp 9 lên lớp 10:

    c/ Giáo viên giỏi các cấp:

    - Chiến sĩ thi đua:

    - Sáng kiến kinh nghiệm được xếp loại:

    d/ Danh hiệu nhà trường:

        4) Cơ sở vật chất:

        Trường THCS Minh Tân học ở khu trường Kim Quy đến năm 2000 – 2001 thì chuyển về khu trường mới đóng trên địa bàn thôn Mai Trang.

        Khu trường mới có 17 phòng học kiên óos; trong đó có 16 phòng làm lớp học, 01 phòng làm văn phòng tạm thời chưa có phòng bộ môn.

        Trang thiết bị dạy – học:

     

    B) Trường tiểu học.

        1/ Từ những năm học 1992 – 1993 đến năm 1997 - 1998, trường tiểu học Minh Tân do thầy Nghiêm Đức Hợp, thầy Phạm Văn Khắc và cô Nguyễn Thị Hồng Bính  làm hiệu phó. Sau khi cô Bính chuyển về quê (Thanh Hoá) công tác, cô Lương Thị Huynh được đề bạt làm hiệu phó, Năm 1997, thầy Nguyễn Văn Ngạn được đề bạt làm phó hiệu trưởng.

        Năm học 1997 – 1998, số lớp của trường tiểu học minh Tân lên tới 45 lớp với 1544 học sinh, tháng 9 năm 1998, uỷ ban nhân dân huyện Phú Xuyên, sở GD - ĐT Hà Tây có quyết định 1000/QĐUB tách trường tiểu học Minh Tân thành hai trường: Tiểu học Minh TânA và trường tiểu học Minh TânB.

        2/ Trường tiểu học Minh TânA

        Trường tiểu học Minh TânA do thầy nghiêm Đức Hợp làm hiệu trưởng, thầy Nguyễn Văn Ngạn, cô Lương thị Huynh làm hiệu phó, tổng số cán bộ, giáo viên hàng năm từ 38 đến 40 đ/c

        Từ năm học 2001 – 2002 đến năm học 2007 – 2008, trường duy trì ở 28 lớp, số học sinh cao nhất là năm 2001 – 2002 là 914 em, số học sinh năm thấp nhất (2006 – 2007) là 656 em, số học sinh trung bình trong 7 năm là 755 em.

        Các chỉ tiêu đề ra cho mỗi năm học nhà trường đều đạt và vượt chỉ tiêu.

        Số giáo viên có trình độ chuyên môn:

        Số giáo viên đạt chuẩn quốc gia:

        Nhà trường có 2 giáo viên dạy ngoại ngữ.

        Học sinh lên lớp hàng năm đạt từ 95% đến 98%.

        Học sinh tiên tiến hàng năm đạt từ 35% trở lên.

        Trong 7 năm học có: 575 lượt học sinh đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp trường. 559 lượt học sinh giỏi cấp huyện; có  22 học sinh giỏi cấp tỉnh.

        Về giáo viên: Trong 7 năm có 85 lượt giáo viên được công nhận là giáo viên giỏi cấp huyện; có 8 giáo vien đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp huyện.

        Danh hiệu nhà trường: Nhiều năm nhà trường đạt danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc của huyện.

        Cơ sỏ vật chất của nhà trường:

        Trường tiểu học Minh TânA được đặt ở hai khu Vực: Kim Quy và Bái Xuyên. tổng số có 21 phòng học cấp 4,

     

        Nhà trường được trang bị:

        3/ Trường tiểu học Minh TânB.

        Trường tiểu học Minh TânB do thầy Phạm Văn Khắc làm hiệu trưởng, thầy Nguyễn Văn Ngạn làm hiệu phó, đến năm:                              Thầy Ngạn chuyển về làm hiệu phó tại trường tiểu học Minh TânA, thầy Nghiêm Văn Dương được đề bạt làm hiệu phó. Hành năm có từ 16 giáo viên trực tiếp giảng dạy.

        Năm học 1998 – 1999, là năm học có số học sinh cao nhất là 437 học sinh với 14 lớp, năm học 2007 – 2008 có số học sinh thấp nhất là 287 học sinh với 10 lớp. Trong suốt 10 năm học có số học sinh trung bình là: 329 học sinh.

        Đến nay 100% giáo viên có trình độ trung cấp sư phạm trở lên.

        Nhà trường có 2 giáo viên dạy ngoại ngữ (Tiếng Anh)

        Học sinh lên lớp trung bình hàng năm đạt 97 – 98%

        Học sinh tiên tiến hàng năm đạt 30%

        Trong 10 năm học có 229 lượt học sinh được công nhận là học sinh giỏi cấp huyện; có 8 lượt học sinh được công nhận là học sinh giỏi cấp tỉnh.

        Về giáo viên:

        Danh hiệu nhà trường: Nhiều năm dạt danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện.

        Về cơ sở vật chất:

        Trường tiểu học Minh Tân B được đặt ở 2 khu: Mai Trang và Thần Quy.

    Tổng số phòng học:

    C. Các trường Mầm non

        1/ Từ năm học 1993 – 1994, hệ thống trường mầm non xã Minh Tân đã được hoàn thiện, cơ cấu tổ chức, kiện toàn cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên ổn định.

        Ban giám hiệu nhà trường gồm ba thành viên, cô Bùi thị Điểm làm hiệu trưởng; các cô: Nguyễn Thị Vinh, Vũ thị Định giữ chức vụ hiệu phó. Hiện nay nhà trường có 26 cô giáo, trong đó có 22 cô có trình độ trung cấp sư phạm.

        Được sự nhất trí của thường vụ Đảng uỷ ngày    tháng       năm            chi bộ trường mầm non được thành lập gồm 6 Đảng viên, đồng chí Bùi Thị Điểm làm bí thư chi bộ.

        2/ Phát triển về số lượng nhóm lớp, số học sinh.

        Năm học 1992 – 1993, đến năm học 1999 – 2000, nhà trường có 12 – 13 nhóm lớp lớp (có 6 nhóm trẻ) với số học sinh 350 đến 400 cháu. Từ năm học 2000 – 2001, số nhóm lớp, số học sinh ngày càng tăng, năm học 2007 – 2008 trường có 21 nhóm lớp với 561 học sinh.

        3/ Chất lượng giáo dục.

        Hàng năm, các cháu 5 tuổi cuối năm học đọc, viết thành thạo 10 chữ số đầu và 29 chữ cái được chuyển lên lớp 1 đạt 100%. Số cháu nhà trẻ chuyển lên học mẫu giáo đạt 99% đến 100%. Nhà trường thực hiện có kết quả phương pháp giáo dục vừa dạy, vừa dỗ, vừa chơi, vừa học nhằm phát triển toàn diện cả bốn mặt giáo dục: Đức, Trí, Thể, Mỹ.

        Năm học 2007 – 2008, toàn trường có 60 em học sinh giỏi cấp trường, 40 em là học sinh giỏi cấp huyện, được nhà trường và ban khuyến học khen thưởng. Đội ngũ các cô giáo thường xuyên được học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, văn hoá. Trung bình hàng năm có 10 cô giáo đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp trường. Năm học 2007 – 2008, có 2 cô giáo đạt giáo viên giỏi cấp huyện và 2 cô giáo đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp huyện.

        4/ Cơ sở vật chất của nhà trường.

        Đến nay, trường mầm non Minh Tân có 14 phòng học kiên  cố và bán kiên cố hạn chế số lớp phải đi học nhờ ở nhà dân. Đồ dùng giảng dạy, đồ chơi của học sinh ngày càng tăng cường. Các cô giáo sử dụng đạt hiệu quả tốt.

     

    Phần kết luận

        Trải qua 64 năm (1945 – 2008) ngành giáo dục đào tạo của xã Minh Tân không ngừng trưởng thành và phát triển.

        Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, nhân dân Minh Tân cùng nhân dân cả nướctích cực hưởng ứng thực hiện phong trào xoá nạn mù chữ, phát triển các lớp bình dân học vụ trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được độc lập, phải chống thù trong, giạc ngoài, diệt giặc đói, giặc dốt.

        Từ năm 1965 đến năm 1975, ngành giáo dục Minh Tân dã vượt qua những thử thách gay go, duy trì phát triển trường lớp phổ thông, bổ túc văn hoá chống lại chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ. Số lượng học sinh ngày càng tăng, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao. Nhiều thế hệ thầy trò nhà trường nhập ngũ góp phần giành độc lập, tự do cho đất nước.

        Giai đoạn từ năm 1976 đến 2008, giai đoạn sự nghiệp giáo dục đào tạo thống nhất trong cả nước về nội dung, chương trình gỉng dạytheo hệ 12 năm. trường phổ thông cơ sở Minh Tân cún


    Nguyễn Đức Tài @ 21:32 28/03/2012
    Số lượt xem: 928
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến
    print