Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê truy nhập Website

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với website của Trường phổ thông Dân tộc nội trú Mường Khương

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của trường.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Sáng kiến kinh nghiệm >

    Phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Lịch sử

    A: MỞ ĐẦU:

     

    I: Lý do chọn đề tài.

              Trước thực trạng hiện nay của học sinh trường PTDT nói riêng và học sinh nói chung là không thích học môn Lịch sử cho rằng môn "Lịch sử" khô khan, khó học. Nhiều học sinh không hiểu về lịch sử của đất nước mình. Để thực hiện có hiệu quả việc dạy học Lịch sử theo chương trình và sách giáo khoa mới, cần đổi mới phương pháp dạy học. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết trung ương 4 khoá VII và được cụ thể hoá ở Luật giáo dục: " Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rnef luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tư tưởng tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"

              Có thể nói, cốt lõi của đối mới dạy học và học là hướng tới hoạt động, học tập chủ động chống thói quen học tập thụ động nhằm tạo ra những con người năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề

    II: Mục đích nghiên cứu.

              Làm thế nào để học sinh có hứng thú học môn Lịch sử và yêu thích môn học từ đó nắm chắc kiến thức lịch sử Việt Nam, Lịch sử thế giới.

    III: Đối tượng nghiên cứu.

              Học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 trường DTNT Mường Khương

    IV: Nhiệm vụ nghiên cứu.

              Là giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Lịch sử.

    V: Phương pháp nghiên cứu.

              Dựa vào thực trạng học sinh ở trường.

              Tham khảo tài liệu, sách bồi dưỡng thường xuyên chu kì III môn Lịch sử.

     

    B: NỘI DUNG.

     

    I: Cơ sở lý luận.

              Để học sinh học tập tốt và thu hút được kết quả cao trong quá trình học tập thì người giáo viên phải nắm vững, hiều rõ, tâm lý trong học tập.

     

    * TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP THƯỜNG CÓ 4 GIAI ĐOẠN.

     

              Giai đoạn thứ nhất: Là giai đoạn cảm giác tri giác, tức quá trình học sinh dùng cảm giác tri giác như nghe, nhìn, sờ mó. vv.. để có được nhận thức cảm tính. Ví dụ trong khi nắm các tri thức về Toán, Lý, Hoá để lĩnh hội được khái niệm, qui tắc, định lý viết trong sách, thường phải quan sát một số hình vẽ, sờ vào một số vật thực, hoặc làm một số thực nghiệm... Trong khi học lịch sử, địa lý, để nắm được hàm nghĩa của những khái niệm lịch sử, địa lý cũng phải thường xem các văn vật lịch sử, tranh ảnh, bản đồ...vv.. thông qua một loạt hoạt động như quan sát, lắng nghe, sờ mó thao tác hoặc tưởng tượng..vv.. thu được nhận thức cảm tính cụ thể về những tri thức cần học.

              Giai đoạn thứ hai: Là lý giải tức quá trình dựa trên cơ sở nhận thức cảm tính, thông qua phân tích, tổng hợp, trìu tượng và khái quát để đạt tới nhận thức được bản chất của sự vật.

              Giai đoạn thứ ba là củng cố: Cùng với lúc thu lượm và lý giải tri thức và sau đó cần phải củng cố. Quá trình củng cố tri thức chính là thông qua ghi nhớ lưu giữ cho kỹ tri thức để khi cần thì đem ra vận dụng và thông qua việc củng cố, tri thức tích luỹ dần tri thức.

              Giai đoạn thứ tư là ứng dụng: Giai đoạn cuối cùng của quá trình học tập là ứng dụng tri thức, tức là đem những tri thức, tri giác, tuyển sinh duy, tư tưởng và ghi nhớ vào vận dụng thực tế nhằm hình thành những kỹ năng và kỹ xảo tương ứng. Quá trình vận dụng tri thức là quá trình từ không thành thạo đến thành thạo.

    Bốn giai đoạn của học tập gắn bó với nhau, ứng dụng là sự tiếp tục và phát triển của ba giai đoạn trước, còn ba giai đoạn trước là tiền đề và cơ sở của giai đoạn cuối cùng. Quá trình học tập được thực hiện có liên quan chặt chẽ với động cơ học tập, sự chú ý và sự thể nghiệm tinh thần.

              Mọi người thường nói: Xe lửa chạy nhanh là nhơ vào đầu tầu. Đầu tầu có lắp máy động lực, xe lửa không có máy động lực thì không chạy được. Hoạt động học tập của con người cúng cần có một máy động lực, đó chính là động cơ học tập. Bất kì hoạt động học tập nào, đều do động cơ học tập dẫn tới.

              Động cơ học tập là động lực bên trong trực tiếp thúc đẩy học sinh học tập, thể hiện nhu cầu tâm lý của học sinh đối với học tập. Nó có ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình học tập và hiệu quả học tập. Một học sinh có động cơ học tập mạnh mẽ đũng đắn thì em đó có tính tự giác và tính chủ động cao, sẽ cảm thấy học tập là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống của mình, không pghair là có cũng được không cũng được, thực sự xác lập được tư tưởng " Tôi cần học", do đó trong hoạt động học tập thể hiện một thái độ tích cực và một hứng thú mạnh mẽ, trong quá trình học tập trung sức chú ý, khắc phục mọi khó khăn, từ đó giành được hiệu quả học tập tương đối tốt. những học sinh không có động cơ học tập đúng đắn thường cho rằng học tập là để đối phó với cha mẹ, đối phó với thầy cô, là người khác "cần ta học" do đó trong hoạt động học tập thường tiêu cực bị động, đương nhiên hiệu quả học tập cúng kém.

              Để nâng cao hiệu quả học tập thu lượm được nhiều tri thức, cần phải chú trọng phương pháp học tập khoa học. Có ba loại phương pháp học tập thường thấy...

              Phương pháp học tập thuần tuý và thử nhớ lại:

              Người ta nói rằng:"Đọc sách một trăm lần, sẽ tự thấy nghĩa của nó" Học một nội dung mới, đọc đi đọc lại nhiều lần, lâu dần thành thuộc, nghĩa của nó cũng thấy rõ được, đó gọi là phương pháp tập đọc thuần tuý. Sau khi đọc một hoặc hai lần thử nhác lại, thử giải thích nghĩa, gặp khoá khăn thì giở sách ra đọc lại, cứ thế cho đến khi đọc thuộc lòn, hoàn toàn hiểu ý nghĩa của bài đọc, đó gọi là phương pháp thử nhớ lại. Mục đích của phương pháp thử nhớ lại rất rõ ràng, học tập chủ động, kịp thời biết được hiệu quả học tập của mình, làm nổi bật trọng điểm, kết hợp chặt giữa học và vận dụng, hiệu quả rõ ràng, tốt hơn phương pháp tập đọc thuần tuý.

              Phương pháp ôn tập toàn bộ và phương pháp ôn tập từng phần. Ôn tập toàn bộ nội dung học tập cho đến khi nắm được gọi phương pháp ôn tập toàn bộ. Chia nội dung học tập ra thành nhiều phần, ôn tập xong phần nọ sẽ ôn tập tiếp phần kia, làm như vậy được gọi là phương pháp ôn tập từng phần. Trong quá trình học tập,tốt nhất là dùng cả hai phương pháp, xen kẽ với nhau.

              Phương pháp học tập trung và phương pháp học phân tán. Về mặt phân phối thời gian học tập, học một mạch không nghỉ, đó là phương pháp học tập trung, nếu giữa chừng có nghỉ là phương pháp học phân tán. Các nhà tâm lý học cho rằng phương pháp học phân tán học hiệu quả tốt hơn phương pháp học tập trung. Vì rằng phương pháp học phân tán, bộ óc được nghỉ ngơi, giảm bớt ức chế do mệt mỏi gây ra, tăng hứng thú, học tập sẽ nhanh tiến bộ. Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình học tập cần phải có mục tiêu học tập và mức độ chí hướng.

              Mục tiêu học tập và mức độ chí hướng và hai mặt của một sự vật. Mục tiêu học tập là tiêu chuẩn khách quan của học tập, mức độ chí hướng là ý chí chủ quan của học tập.

              Xây dựng mục tiêu học tập giống như vận động viên nhẩy cao đặt mức nhảy xà vậy. Mức cao thấp khi đặt xà nhảy là mức cao thấp của mục tiêu đặt ra. Song song với điều đó, mức cao thấp của mục tiêu biểu hiện nguyện vọng chủ quan của người đặt ra mục tiêu, người đặt ra mục tiêu cao mong muốn giành được thành tựu lớn hơn. Về mặt học tập, mục tiêu học tập và chí hướng cao hay thấp ảnh hưởng đến thành tích học tập của học sinh.

              Mục tiêu cá nhân đặt ra càng cao, kì vọng càng cao, hoài bão càng lớn, thì thành tích của người đó càng lớn. Ngược lại, nếu hoả mãn với hiện tại, chẳng có mong muốn gì thì sẽ nhậm chân tại chỗ. Mục tiêu, chí hướng hoặc kỳ vọng càng cao, thì người đó sẽ gắng sức nhiều hơn để thực hiện mục tiêu của mình, không ngừng thâu lượm tri thức mới và những bài học kinh nghiệm, và cũng cảm thấy vui sướng hơn khi thành công, từ đó lại trỗi dậy kỳ vọng mới. Mục tiêu, chí hướng hoặc kỳ vọng thấp, thì công sức bỏ ra cho việc đó nhỏ, do đó rất ít được hưởng niềm vui khi giành được thành tích.

              Các nhân tố ảnh hưởng đến mục tiêu học tập và mức độ trí hướng của học sinh rất phức tạp, chủ yếu gồm ba mặt.

                       Một là: Yêu cầu của thày cô và cha mẹ học sinh.

                       Hai là: ảnh hưởng của thành tích học tập.

                       Ba là: Sự cảm ứng khi so sánh với người khác.

              Muốn đạt được kết quả cao trong học tập còn cần phải rèn luyện về kỹ năng.

              Kỹ năng là một phương thức hoạt động có được qua học tập, là do một số động tác hợp lại thành, có khi những động tác đó thể hiện ở bên ngoài, được hoàn thành thông qua sự vận động ở bên ngoài.

              Kỹ năng của con người không phải đã có từ lúc đang ở trong bụng mẹ, mà là do sau khi ra đời được liên tục bồi dưỡng và huấn luyện mới thành nên " Nghề nghiệp tinh thông do chăm chỉ siêng năng, không thành đạt do chơi bời lười biếng" thiên tài là do chăm chỉ siêng năng mà ra.

              Từ những cơ sở lý luận trên, người giáo viên khi tổ chức hoạt động dạy và học sẽ biết mình phải làm gì để học sinh nắm được kiến thức một cách hiệu quả nhất.

    II. Nội dung chính:

              Để thực hiện có hiệu quả việc dạy học theo chương trình sách giáo khoa mới, cần đổi mới phương pháp dạy học. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học và dạy học đã được xác định trong Nghị quyết TW 4 khoá VII và được cụ thể hoá ở luật giáo dục: " Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tư tưởng tình cảm, đem lại niềm vui và hứng thú học tập cho học sinh".

              Có thể nói, cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động, học tập chủ động chống thói quen học tập thụ động nhằm tạo ra những con người năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề.

              Trước thực trạng học sinh hiện nay, không thích học môn Lịch sử, không hiểu rõ về lịch sử dân tộc mình thì việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực trong môn Lịch sử ở THCS là điều cần thiết và cấp bách.

              Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn dùng để chỉ những phương pháp dạy học và giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.

              Phương pháp dạy học tích cực hướng tới hoạt động hoá, tích cực hóa nhận thức của người học chứ không phải là tập trung vào người dạy. Dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều hơn so với dạy phương pháp thụ động. Có bốn dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực.

              + Thứ nhất: Dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động của học sinh. Theo cách này thì người học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những kiến thức đã được giáo viên sắp đặt. Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động. Chương trình dạy học phải giúp cho học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng.

              + Thứ hai: Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học. Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự lực học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dạy nội lực vốn có trong mỗi người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta thường nhấn mạnh mặt hoạt động trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ đọng, đặt vấn đề nphats triển tự học ngày nay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học ngay cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên.

              + Thứ ba: Là tăng cường hoạ động cá thể, phối hợp với hoạt động hợp tác. Lớp học là môi trường giao tiếp thày - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng được vốn hiểu biết mà kinh nghiệm của mỗi học sinh và cả lớp chứ không phải chỉ dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của thày giáo.

              + Thứ tư: Là kết hợp đánh giá của thày và tự đánh giá của trò. Trước đây giáo viên độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp dạy học tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau. Việc kiểm tra đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại các kỹ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết các tình huống thực tế.

            Trong dạy học lịch sử phát huy tính tích cực của học sinh giữ vai trò chủ động hơn. Lúc này học sinh là người tiếp nhận thông tin một cách bị động, không chủ yếu tiếp nhận thông tin từ giáo viên mà chủ động lĩnh hội thông tin, suy nghĩ, tìm tòi, khám phá các khía cạnh khác nhau của thông tin, sắp xếp lại thông tin theo cách này, học sinh hợp tác với các bạn để lĩnh hội và phát triển kiến thức, phát triển các kỹ năng của mình.

              Dạy học lịch sử phát huy tính tích cực của học sinh đã và đang mang lại những kết quả nhất định. Điều đó chúng ta có thể thấy được qua một bài học cụ thể:

    Tiết 10:

    CHƯƠNG III: MĨ, NHẬT BẢN, TÂY ÂU TỪ 1945 ĐẾN NAY

    BÀI 8: NƯỚC MĨ

    I. Mục tiêu:

    1. Kiến thức: học sinh nắm được:

              - Sau chiến tranh thế giới thứ hai, kinh tế Mĩ có bước phát triển nhảy vọt giàu mạnh nhất về kinh tế, khoa học kĩ thuật và quân sự trong hệ thống các nước tư bản, trở thành siêu cường.

              - Trong thời kỳ này, nước Mĩ thực hiện chính sách đối nội phản đồng, đẩy lùi và đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng.

              - Chính sách đối ngoại: Bành chướng thế lực với mưu đồ làm bá chủ thống trị thế giới, nhưng trong hơ nửa thế kỷ qua, mĩ đã vấp phảI nhiều thất bại nặng nề.

    2. Tư tưởng;

              - Học sinh cần thấy rõ thực chất chính sách đối nội và đối ngoại của Mĩ.

              - Về kinh tế Mĩ giàu mạnh, nhưng gần đây, Mĩ bị Nhật bản và Tây Âu cạnh tranh ráo diết, kinh tế mĩ giảm sút mặc dù vẫn đứng đầu thế giới nhưng so với trước 1973 giảm sút nhiều.

              - Từ năm 1995 trở lại đây, Việt Nam và Mĩ đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức về nhiều mặt. Về kinh tế, ta đẩy mạnh hợp tác và phát triển để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Nhưng kiên quyết phản đối những mưu đồ" Diễn biến hoà bình" bá chủ của Mĩ.

    3. Kỹ năng:

              - Rèn kĩ năng phân tích, tỏng hợp, đánh giá các sự kiện, kĩ năng sử dụng của Mĩ.

    II. Chuẩn bị:

              Thầy: Bản đồ thế giới, tài liẹu về nước Mĩ.

              - Trò: Sưu tầm tài liệu nói về nước Mĩ.

    III. Tiến trình dạy và học:

    1. Ổn định tổ chức:

    2. Kiểm tra đầu giờ:

              - Trình bày những nét chính về cách mạng Cu Ba ( 1945 đến nay ).

    Dự kiến trả bài:

              + Ngày 27.6.1953 cách mạng tấn công pháo đài Môn ca đa…

              + Phi đen bị bắt.

              + Năm 1955 Phi đen được trả tự do và bị trục xuất sang Mi hê cô.

              + Tháng 11. 1956 Phi đen về nước…

              + Cuối năm 1958 lực lượng cách mạng lớn mạnh.

              + Ngày 01.01.1959 chế độ độc tài Batixta sụp đổ, cách mạng Cu Ba thắng lợi.

    3. Bài mới:

    * Giới thiệu bài: Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, kinh tế Mĩ phát triển nhẩy vọt, đứng đầu thế giới tư bản, trở thành siêu cường. Với sự vượt trội về kinh tế, khoa học kĩ thuật, hiện nay Mĩ đang giữ vai trò hàng đầu trong nền chính trị thế giới và quan hệ quốc tế.

    Hôm nay chúng ta học tài về nước Mĩ ( 1945 đến nay ):

    Hoạt động của thầy và trò

    Nội dung chính

    - Giáo viên dùng bản đồ thế giới giới thiệu về nước Mĩ ( Diện tich: 154.450 Km2, dân số: 280.562.489 nghìn người).

    - Học sinh lắng nghe.

    - Giáo viên giảng: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nước Mĩ đã vươn lên trở thành nước tư bản giàu mạnh nhất trong thế giới tư bản chủ nghĩa.

    HĐ1: Nguyên nhân phát triển kinh tế:

    - Học sinh đọc thầm phần I trong sách giáo khoa và trả lời câu hỏi.

    Hỏi: Nguyên nhân nào dẫn đến sự phát triển nhẩy vọt của kinh tế Mĩ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay?

    - Học sinh trả lời.

    - Học sinh khác nhận xét, bổ sung.

    - Giáo viên kết luận.

    HĐ 2: Thành tựu:

    Hỏi: Nêu những thành tựu của Mĩ sau chiến tranh?

    - Học sinh trả lời.

    - Giáo viên kết luận.

     

     

     

     

     

     

    HĐ 3: Nguyên nhân suy giảm kinh tế Mĩ: Thảo luận nhóm ( 3 phút ).

    Hỏi: Vì sao từ năm 1973 trở đI, nền kinh tế Mĩ suy giảm?

    - Các nhóm báo cáo.

    - Nhóm khác nhận xét bổ sung.

    - Giáo viên kết luận.

    - Học sinh nghe, ghi.

    - Giáo viên liên hệ, mở rộng thêm.

    + 1972 chi 352 tỉ  USD cho quân sự.

    + 1973 khủng hoảng nhiều mặt.

    HĐ 4: Thành tựu về khoa học - kỹ thuật từ sau chiến tranh:

    - Giáo viên giảng.

    - Học sinh nghe - ghi.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    - Giáo viên giới thiệu kênh hình 16.

    Hỏi: Nhìn vào bức ảnh tàu con thoi của Mĩ đang được phóng lên, các em biết được điều gì về lĩnh vực khoa học - kỹ thuật của nước Mĩ sau chiến tranh thế giới thứ hai?

    - Khẳng định sự phát triển trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật của nước Mĩ.

    Hỏi: Tàu con thoi được phóng lên vụ trũ vào thời gian nào? trọng lượng của nó?

    - Phóng ngày 12.4.1981 - mang tên Cô - lum - bi -a cùng hai nhà du hành vũ trụ.

    - Nặng 2000 tấn có thể chở 30 tấn và một đội bay 4->7 phi công vũ trụ, trong đó có hai người lái.

    - Từ 1945 ->1991 có 3824 vệ tinh nhân tạo được phóng lên vũ trụ, 2461 của Liên Xô, Mĩ 1120 ( chiếm 29% ).

    HĐ 5: Chính sách đối nội:

    Hỏi: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ thực hịên chính sách đối nội như thế nào?

    - Giáo viên minh hoạ thêm sách tham khảo T92.

     

     

     

     

     

    Hỏi: TháI độ của nhân dân Mĩ với những chính sách đối nội của chính phủ ra sao?

     

     

     

    HĐ 6: Chính sách đối ngoại:

    Hỏi: Chính sách đối ngoại của nước Mĩ sau chiến tranh thế giới thứ hai như thế nào?

    - Học sinh trả lời;

    - Giáo viên kết luận.

    - Giáo viên giảng: " Chiến lược toàn cầu" Đó là mục tiêu, kế hoạch có tính chất lâu dài của Mĩ làm bá chủ, thống trị thế giới.

    - Giáo viên liên hệ thực tế Việt Nam và quan hệ Việt nam - Mĩ….

     

     

     

     

    I. Tình hinh kinh tế nước Mĩ từ sau chiến tranh thế giới lần  thứ hai:

    * Nguyên nhân phát triển kinh tế:

     

     

     

     

    - Không bị chuến tranh tàn phá.

    - Giàu tài nguyên.

    - Thừa hưởng các thành quả khoa học kỹ thuật thế giới.

     

     

    * Thành tựu:

    - Kiếm được 114 tỉ USD nhờ buôn bán  vũ khí.

    - Chiếm hơn một nửa sản lượng công nghiệp thế giới ( 1945 - 1950 ).

    - Nông nghiệp gấp hai lần của 5 nước: Anh, Pháp, Đức, ý, Nhật Bản cộng lại.

    - Năm 3/4 trữ lượng vàng thế giới, chủ nợ duy nhất của thế giới.

    - Từ năm 1973 đến nay công nghiệp giảm, dự trữ vàng giảm.

     

     

    - Bị Nhật và tây âu cạnh tranh ráo riết.

    - Thường xuyên khủng hoảng -> suy thoái.

    - Chi phí quân sự lớn.

    - Chênh lệch giàu, nghèo quá lớn.

     

     

     

     

     

     

    II. Sự phát triển về kinh tế kha học kỹ thuật của Mĩ sau chiến tranh:

    * Thành tựu:

    - Là nước khởi đầu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai ( 1945 ).

    - ĐI đầu về khoa học - kỹ thuật và công nghệ thế giới trên mọi lĩnh vực.

    + Sáng chế công cụ mới ( máy tính, máy tự động ).

    + Năng lượng mới.

    + Vật liệu mới: Pôlime (chất dẻo), Tơphơrông.

    + " Cách mạng xanh".

    + Cách mạng giao thông và thông tin liên lạc.

    + Chinh phục vũ trụ ( tháng 7.1969 đưa người lên mặt trăng ).

    + Sản xuất vũ khí hiện đại.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    III. Chính sách đối nội và đối ngoại của Mĩ sau chién tranh:

    * Chính sách đối nội:

    - Hai đảng dân chủ và cộng hoà thay nhau cầm quyền.

    - Ban hành một loạt đạo luật phản động.

    + Cấm Đảng cộng sản hoạt đồng.

    + Chống phong trào đình công.

    + Loại bỏ nhiều người tién bộ ra khỏi chính phủ.

    + Đàn áp phong trào công nhân.

    + Thực hiện phân biệt chủng tộc.

    - Phong trào đấu tranh của nhân dân lên mạnh.

    * Chính sách đối ngoại:

    - Mĩ đề ra chiến lược toàn cầu.

    - Chống các nước xã hội chủ nghĩa.

    - Tiến hành viện trợ để khống chế các nước này.

    - Thành lập khối quân sự gây chiến tranh xâm lược.

    - Mĩ thất baị trong cuộc chiến tranh Việt nam.

    - Từ 1991 đến nay Mĩ xác lập thế giới " Đơn cực" để chi phối và khống chế thế giới.

    4. Củng cố:

              - Những thành tựu to lớn về kinh tế khoa học - kỹ thuật của Mĩ từ năm 1945 đến nay?

              - Nguyên nhân sự phát triển kinh tế Mĩ ( 1945 -> 1975 ) và nguyên nhân suy giảm từ 1973 đến nay?

              - Những nét chính về chính sách đối ngoại, đối nội của Mĩ ( 1945 đến nay ).

    * Làm tài tập: Nguyên nhân nào cơ bản nhất thúc đẩy nền kinh tế Mĩ phát triển nhanh chóng sau chiến tranh thế giới thứ hai.

              a. Mĩ giàu lên nhờ buôn bán vũ khí.

              b. Tài nguyên thiên nhiên phong phú.

              c. áp dụng các thành tựu của cách mạng khoa học - kỹ thuật.

              d. Tập trung sản xuất và tư bản cao.

    5. Hướng dẫn học bài:

              - Học và nắm nội dung bài.

              - Chuẩn bị bài " Nhật Bản "

    *Kết quả khảo sát:Sau khi hoc xong bài 8 GV khảo sát chất lượng kết quả đạt được là:  28/31=      90,3% từ TB trở lên.(đối tượng khảo sát lớp9A trường PTDT Nội Trú. Mường KHương).

    III. Giải pháp thực hiện:

              Để phát huy hết khả năng của mình và giúp các em học tốt các môn học thì nhiều giáo viên có những giảI pháp như sau:

              1. Giáo viên phải làm thông một số tư tưởng cho học sinh không nên coi môn học này là chính, môn học kia là phụ. Phải làm cho học sinh yêu môn học để từ đó học sinh hứng thú học môn học đó.

              2. Cần tăng cường sử dụng đồ dùng trực quan tránh chuyện dạy chay.

              3. Giáo viên cần kết hợp nhiều phương pháp trong giờ học có khi là vấn đáp, có khi là đàm thoại, có khi là thảo luận nhóm... đặc biệt là giáo viên phải có vốn kiến thức sâu rộng để trong dạy học phải gắn với thực tế lịch sử.

              4. Cần biết kết hợp với môn Văn trong dạy học sử để tạo cho học sinh hứng thú học tập, đặc biệt là trong quá trình tường thuận diễn biến các trận đánh giáo viên nên chuẩn bị kỹ bài tường thuật gây ấn tượng với học sinh.

              Ví dụ: Khi tường thuật trận Điện Biên Phủ năm 1954, giáo viên có thể đọc những câu thơ của Tố Hữu " 9 năm là một điện Biên, nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng ".

              5. Sau mỗi tiết học phần củng cố giáo viên cần dành một thời lượng thời gian phù hợp và dùng bảng phụ có chứa các câu hỏi trắc nghiệm khắc quan ứng với nội dung kiến thức của bài dạy nhằm mục đích khắc sâu kiến thức cho học sinh.

     

    C. KẾT LUẬN:

              Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học của Nghị quyết TW 4 khoá VII đã được thể chế hoá trong luật giáo dục: " Phương pháp giáo dục phổ thông phảI được phát huy tính tích cực, tự  giác, chủ đồng, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học. Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác đồng đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt đồng học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.

              Thực hiện tinh thần đổi mới đó, bộ môn Lịch sử không ngừng chú trọng cảI tiến phưng pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong việc chiếm lĩnh kiến thức. Để thực hiện tốt chủ trương đó, giáo viên dạy bộ môn Lịch sử nên giành nhiều thời gian để tìm hiểu và vận dụng phương pháp tích cực trong quá trình dạy học của mình./.

     

     

     

     

     

    NGƯỜI VIẾT

     

     

     

     

    BÙI THỊ HUỆ

     


    Hồ Hiến @ 15:05 10/12/2012
    Số lượt xem: 359
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến
    print