Tư liệu mới nhất

01.jpg Thpt_cai_beFLV__YouTube.flv Chu_nguoi_tu_tu_1__YouTube.flv Voi_vang_1__YouTube.flv Song_2__YouTube.flv Song_1__YouTube.flv Kieu_bai_nghi_luan_ve_mot_hien_tuongsu_kien_trong_doi_song__YouTube.flv Kieu_bai_nghi_luan_ve_mot_tu_tuong_dao_li_2__YouTube.flv Kieu_bai_nghi_luan_ve_mot_tu_tuongdao_li_1__YouTube.flv Dan_ghi_ta_cua_Lor__ca_2__YouTube.flv Ong_gia_cau_ca_flash.swf 100x3601.swf 100x360.swf Mp3 Dulich___chaudoc_flv_mp3.flv Dan_ghi_ta_cua_Lor__ca_1__YouTube.flv ThiTruyenHinh_0.flv Gioi_thieu_rung_U_Minh.flv AVSEQ08_1.flv AVSEQ02.flv

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Võ Minh Nhựt)

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    LỊCH ÂM DƯƠNG VIỆT NAM

    Tháng
    Năm

    ĐỌC BÁO ONLINE

    TRANG TIN GIÁO DỤC

    Qua năm châu lục tìm đường cứu nước, Bác Hồ lãnh tụ dũng Chí anh Minh / Trải hai cuộc chiến đánh giặc ngoại xâm, Tướng Võ giáo sư còn Nguyên áo Giáp

    Rừng xà nu

    (Bài giảng chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Võ Minh Nhựt (trang riêng)
    Ngày gửi: 23h:38' 23-07-2012
    Dung lượng: 5.1 MB
    Số lượt tải: 108
    Số lượt thích: 0 người

    ….câu chuyện của một đời
    được kể trong một đêm…

    câu chuyện về
    người anh hùng
    ở rừng xà nu trên mảnh đất Tây Nguyên
    đau thương nhưng kiên cường, anh dũng
    Theo chân của nhà văn Nguyễn Trung Thành
    để hiểu đất và người Tây Nguyên
    …như một huyền thoại
    RỪNG XÀ NU
    Nguyễn Trung Thành
    1. Tác giả:
    - Nguyễn Trung Thành, tên khai sinh là Nguyễn Văn Báu. Các bút danh khác là Nguyên Ngọc, Nguyễn Kim.
    - Sinh năm 1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam nhưng sự nghiệp sáng tác lại có duyên nợ với mảnh đất Tây Nguyên.
    I. TÌM HIỂU CHUNG:
    - Nguyễn Trung Thành là bút danh được dùng trong thời gian hoạt động ở chiến trường miền Nam thời chống Mĩ.
    - Năm 1950: vào bộ đội, sau đó làm phóng viên báo Quân đội nhân dân. Năm 1962: tình nguyện trở lại chiến trường miền Nam.
    I. TÌM HIỂU CHUNG:
    - Năm 2001: được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
    - Ông được xem là nhà văn Tây Nguyên trên cả hai nghĩa:
    + là người đầu tiên đưa vùng đất Tây Nguyên vào văn xuôi
    + là cây bút văn xuôi viết về Tây Nguyên hay nhất cho đến hôm nay.
    I. TÌM HIỂU CHUNG:
    - Tác phẩm:
    + “Đất nước đứng lên” (1955) - giải Nhất, Giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam năm 1954 - 1955;
    + “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc” (1969);
    + “Đất Quảng” (1971 - 1974);…
    - Đặc điểm nổi bật trong sáng tác:
    + Đề tài và nguồn cảm hứng chủ đạo khi sáng tác là tình yêu con người của một đất nước, quê hương anh hùng và đẹp đẽ.
    + Có nhiều tác phẩm đậm đặc chất Tây Nguyên từ cảnh vật, chi tiết sinh hoạt, truyền thống văn hóa, lời ăn tiếng nói cho đến cái tên của từng nhân vật.
    2. Tác phẩm:
    a. Thời điểm sáng tác và xuất xứ:
    - “Rừng xà nu” ra mắt lần đầu tiên trên Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung bộ (số 2- 1965).
    - Sau đó, được in trong tập truyện kí Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (1969)
    b. Hoàn cảnh ra đời:
    - Mùa hè năm 1965, Mĩ đổ quân vào miền Nam để đánh nhanh, diệt gọn. Rừng xà nu được viết vào đúng thời điểm cả nước sục sôi đánh Mĩ, được hoàn thành ở khu miền Trung Trung bộ.
    Năm 1965, những toán lính Mỹ đổ bộ.
    - Mặc dù viết về cuộc nổi dậy của buôn làng Tây Nguyên trong thời kì Đồng khởi trước 1960, nhưng chủ đề tác phẩm vẫn có quan hệ mật thiết với tình hình thời sự lúc tác phẩm ra đời.
    Binh sĩ Hoa Kỳ thuộc lực lượng Không Kỵ đang truy lùng Việt Cộng ở một ngôi làng tại Tây Nguyên
    c. Đề tài:
    - Đề tài chung: Đề tài về miền núi.
    - Đề tài cụ thể: Đề tài chiến tranh cách mạng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.
    d. Tóm tắt:
    - Rừng xà nu trong tầm đại bác của giặc, đang che chở cho dân làng.
    - Sau ba năm đi lực lượng, Tnú được phép về thăm làng. Đêm đó, tại nhà cụ Mết, cụ đã kể cho dân làng nghe về cuộc đời của Tnú và dân làng Xô Man trong kháng chiến.
    - Hồi Mĩ - Diệm khủng bố gắt gao, được anh Quyết dìu dắt, Tnú cùng Mai tham gia nuôi giấu cán bộ trong rừng.
    - Một lần đi liên lạc, Tnú bị giặc bắt và tra tấn dã man nhưng anh không khai báo điều gì. Ba năm sau, anh vượt ngục trở về làng và lập gia đình với Mai.
    - Theo lời động viên của anh Quyết trước lúc hi sinh, Tnú và dân làng chuẩn bị chiến đấu.
    - Nghe tin, bọn giặc kéo về làng đúng lúc đứa con trai đầu lòng của Tnú ra đời. Bắt không được Tnú, bọn chúng bắt vợ con anh tra tấn tàn khốc.
    - Chứng kiến cảnh tượng đó, bất kể lời can ngăn của cụ Mết, Tnú xông ra, nhưng không cứu được vợ con.
    - Giặc bắt Tnú, quấn giẻ tẩm nhựa xà nu đốt mười đầu ngón tay.
    - Theo lệnh cụ Mết, dân làng nhất tề vùng lên giết bọn giặc và cứu được Tnú.
    - Tnú ra đi, gia nhập lực lượng và chiến đấu rất dũng cảm bằng chính đôi tay tàn tật. Ba năm sau, anh xin phép trở về thăm làng.
    - Sáng hôm sau, Tnú từ biệt dân làng để trở lại đơn vị. Cụ Mết và Dít tiễn Tnú trước cảnh rừng xà nu nối tiếp bất tận…
    Rừng xà nu
    Cây xà nu lớn
    Cây xà nu trưởng thành
    Cây xà nu con
    Làng Xô Man

    Heng

    Cụ Mết

    Tnú, Mai, Dít
    1. Nhan đề:
    Tác giả lấy hình ảnh “rừng xà nu” để đặt tên cho truyện bởi hình ảnh này có giá trị bao trùm và xuyên suốt tác phẩm :
    - Hình ảnh rừng xà nu là linh hồn của tác phẩm. Cảm hứng chủ đạo và dụng ý nghệ thuật của nhà văn được khơi nguồn từ hình ảnh này.
    - Xuyên suốt tác phẩm, cây xà nu được miêu tả có sự gắn bó mật thiết với đời sống vật chất và tinh thần của dân làng Xô Man.
    II. Đọc - hiểu văn bản:
    - Cây xà nu là biểu tượng cho số phận, phẩm chất cao đẹp của người dân Xô Man.
    2. Hình tượng rừng xà nu, cây xà nu:
    a. Cảm nhận chung:
    Rừng xà nu, cây xà nu là hình tượng xuyên suốt toàn bộ câu chuyện trong tác phẩm:
    - Truyện mở đầu bằng hình ảnh rừng xà nu và kết thúc cũng bằng một cảnh rừng xà nu nối tiếp chạy tới chân trời.
    - Trong truyện, gần hai mươi lần nhà văn nhắc đến rừng xà nu, đồi xà nu, ngọn xà nu, khói xà nu, lửa xà nu, nhựa xà nu, dầu xà nu…
    - Suốt chiều dài tác phẩm, cây xà nu được miêu tả gắn bó mật thiết với cuộc sống của dân làng Xô Man:
    - Có mặt trong đời sống hàng ngày của dân làng Xô Man:
    + Lửa xà nu: "cháy giần giật" trong mỗi bếp, trong đống lửa ở nhà ưng.
    + Khói xà nu: xông bảng nứa để Mai và Tnú học chữ
    + Khi Tnú trở về đơn vị, cụ Mết và Dít tiễn đưa anh "ra đến rừng xà nu gần con nước lớn".
    - Tham dự vào những sự kiện trọng đại của dân làng:
    + Ngọn đuốc xà nu: dẫn đường cho Mết và dân làng vào rừng lấy vũ khí chuẩn bị nổi dậy.
    + Tnú bị tra tấn: Giặc đốt hai bàn tay Tnú bằng giẻ tẩm nhựa xà nu.
    + Dân làng nổi dậy và "đống lửa xà nu lớn giữa nhà" soi rõ xác kẻ thù.
    - Thấm sâu vào suy nghĩ và cảm xúc của dân làng:
    + Tnú cảm nhận: Ngực cụ Mết "căng như một cây xà nu lớn"
    + Cụ Mết nói về cây xà nu: "Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta"
    => Trở thành máu thịt trong đời sống vật chất và tinh thần của dân làng Xô Man; thể hiện nhiều dụng ý nghệ thuật của nhà văn.
    b. Đoạn văn miêu tả cảnh rừng xà nu mở đầu tác phẩm:
    “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc … đồi xà nu nối tiếp đến chân trời.”
    - Những dòng tả cảnh hiếm có, được tạo nên bởi ngòi bút biết dùng con chữ để hòa hợp với các sắc màu, chạm khắc thành hình khối, tạo nên hương vị, ánh sáng và sức nóng…
    - Tác giả viết những câu văn đẹp lạ lùng, có sức gây ấn tượng khó quên về hình ảnh rừng xà nu:
    + “Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”.
    + "Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng".
    * Biểu tượng cho sự đau thương:
    - Cánh rừng xà nu được miêu tả ở đoạn văn là một cánh rừng "nằm trong tầm đại bác của đồn giặc", ngày nào cũng bị bắn phá hai lần.
     Qua hình ảnh này, tác giả đã dựng lên bối cảnh cuộc sống dân làng Xô Man: một sự sống trong tư thế đối diện với cái chết, một sự sinh tồn đang đứng trước mối đe dọa của sự diệt vong.
    - Hình ảnh rừng xà nu chịu nhiều đau thương bởi quân thù tàn bạo. Với kĩ thuật "quay toàn cảnh", tác giả đã phát hiện ra:
    "Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương".
    - Nỗi đau hiện ra nhiều vẻ khác nhau:
    + "Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đạn đại bác chặt đứt làm đôi (…) vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm sau thì cây chết".
     Nhà văn đặc tả hình ảnh những cây xà nu non bị huỷ diệt bạo tàn  tạo nên cảm giác xót xa trong lòng người đọc.
    + Cái đau của những cây xà nu như con người đang tuổi thanh xuân, bỗng “bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão”.
     Nhà văn mang nỗi đau của con người để biểu đạt cho nỗi đau của cây  gợi lên cảm giác đau đớn như chính con người bị những vết thương ấy.
    + Ở chỗ vết thương: dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn
     thương tích bầm tụ thành vết thương lớn…
    => Đây là chứng nhân về tội ác của cuộc chiến tranh hủy diệt do Mỹ - ngụy gây ra. Thương tích mà rừng xà nu phải gánh chịu tượng trưng cho những mất mát, đau thương của dân làng Xô Man (anh Xút, bà Nhan, mẹ con Mai…)
    Ảnh tư liệu quân Mỹ đi càn
    Ảnh tư liệu Mỹ rải chất độc da cam
    * Biểu tượng của sức sống bất diệt:
    - Cây xà nu có sức chịu đựng ghê gớm và sức sống mãnh liệt không gì tàn phá nổi:
    + Tác giả đã phát hiện: "Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy".
     So sánh để làm nổi bật sức sống hiếm có của cây xà nu  Đây là yếu tố cơ bản để cây xà nu vượt qua ranh giới của sự sống và cái chết mà vươn lên.
    + "Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời".
     Những từ ngữ đối lập: “ngã gục” – “mọc lên”; “một “- “bốn năm”  khẳng định nguồn sống bền bĩ, bất diệt của rừng xà nu.
     Gợi nghĩ đến sự tiếp nối của nhiều thế hệ người dân Tây Nguyên (cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, Heng) đoàn kết bên nhau trong cuộc kháng chiến.
    + Rừng xà nu có sự tồn tại diệu kì:
    . "…Có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ"
    . "Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng"
    . "Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã…"
     Đặc điểm này tượng trưng cho sức sống bất diệt của dân làng Xô Man.
    Một cây xà nu cổ thụ
     Nói rộng hơn, tác giả cũng muốn nói đến sức sống bất diệt và sức chiến đấu mạnh mẽ của nhân dân Tây Nguyên, nhân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
    - Hình ảnh xây xà nu ham ánh sáng và khí trời:
    + "Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế".
    + "Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng”.
     Những động từ mạnh "ham, phóng, tiếp lấy"  thể hiện niềm khao khát sống, khả năng sống tiềm tàng mãnh liệt, luôn hướng về ánh sáng của cây xà nu.
     Đặc điểm này tượng trưng cho dân làng Xô Man luôn có khát vọng hướng tới cuộc sống tự do, luôn có niềm tin vào lí tưởng của cách mạng.
    - Hình ảnh nhân hóa: “rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng".
     Xà nu không những tự biết bảo vệ mình mà còn bảo vệ sự sống, bảo vệ làng Xô Man
     có ý nghĩa ẩn dụ về những con người đang chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước trong những năm chống Mĩ.
     Hình ảnh rừng xà nu nối tiếp bất tận tượng trưng cho sức sống bất diệt, tinh thần bất khuất của con người Tây Nguyên, của cả Miền Nam, cả dân tộc.
    - Câu văn mở đầu được lặp lại ở cuối tác phẩm:
    “đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời”
    => Nhà văn viết những câu văn đẹp, gây ấn tượng + nhân hóa, ẩn dụ: gợi lên vẻ đẹp mang đậm tính sử thi, biểu tượng cho cuộc sống đau thương nhưng kiên cường và bất diệt của con người Tây Nguyên.
    3. Hình tượng nhân vật Tnú:
    a. Những phẩm chất đáng quý của Tnú:
    * Từ nhỏ cho đến khi bị bắt:
    - Tnú là người có ý thức đi làm cách mạng rất sớm:
    + Sống gần với cán bộ Quyết từ khi còn là một cậu thiếu niên.
    + Từ bé đã có ý thức học chữ, đã có ý thức lớn lên sẽ làm cán bộ thay anh Quyết lãnh đạo phong trào cách mạng của quê hương.
    Kpa Klong, người dân tộc Gia Rai – Tây Nguyên
    - Là người gắn bó và trung thành tuyệt đối với cách mạng:
    + Từ bé đã vào rừng nuôi giấu cán bộ cách mạng. Lớn lên tiếp tục làm liên lạc cho anh Quyết. Sau này trở thành người lãnh đạo cuộc chiến đấu của dân làng Xô Man.
    + Có lần, phải nuốt lá thư vào bụng để giữ bí mật cho cách mạng khi bọn phục kích phát hiện.
    + Địch bắt tra tấn dã man nhưng anh không khai báo điều gì.
    - Là người mưu trí, dũng cảm:
    + Đi làm liên lạc, không đi đường mòn mà khôn khéo xé rừng mà đi.
    + Qua sông không thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang như một con cá kình.
    + Giặc bắt tra tấn vẫn gan lì chịu đựng.
    * Sau khi vượt ngục trở về làng:
    - Tnú đã là một chàng trai hoàn hảo: rắn chắc, cao lớn, đệp như cây xà nu cường tránh nhất của khu rừng hay như người dũng sĩ trong truyền thuyết dân gian.
    - Tnú biết sống chan hòa trong niềm hạnh phúc bên người vợ hiền và đứa con đầu lòng.
    => So với nhân vật A Phủ trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, nhân vật Tnú thể hiện một bước tiến mới trong sự nhận thức và biểu hiện những phẩm chất của một người anh hùng lí tưởng.
    b. Bi kịch của Tnú và chân lí của cuộc chiến đấu chống kẻ thù:
    * Bi kịch của Tnú:
    - Bọn giặc kéo về hòng tiêu diệt phong trào cách mạng ở làng Xô Man.
    - Để truy tìm Tnú, bọn thằng Dục bắt và tra tấn dã man vợ con Tnú bằng gậy sắt.
    - Từ trong cây vả, Tnú "chồm dậy", "hai con mắt là hai cục lửa lớn"; Tnú xông ra đánh gục một tên giặc và ôm chặt lấy vợ con.
     Căm hờn đã uất đọng, bùng lên thành hành động trả thù  Động lực ghê gớm này xuất phát từ trái tim yêu thương và sự căm thù.
    - Nhưng Tnú không cứu sống được vợ con, lời của cụ Mết nhắc đi nhắc lại bốn lần trong lời kể như một điệp khúc đau thương:
    + “Tnú không cứu sống được Mai”
    + “Ừ, Tnú không cứu sống được mẹ con Mai”
    + “Tnú không cứu được vợ con”
    + “Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày”
    - Tnú cũng không bảo vệ được chính mình: anh bị giặc bắt, trói chặt bằng dây rừng. Giặc tẩm dầu xà nu vào giẻ, quấn quanh mười đầu ngón tay Tnú và đốt cháy:
    + "Mười đầu ngón tay thành mười ngọn đuốc"
    + Nhưng Tnú "không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay", mà "nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng"  Một sự chuyển hoá kì lạ, từ ngọn lửa bình thường trở thành ngọn lửa tinh thần căm hờn
    Cảnh tra tấn một chiến sĩ Cộng sản
    + Tnú hét lên một tiếng, không phải tiếng hét đau đớn mà là tiếng hét căm hờn: "Giết"
     Như một lời hiệu triệu, một lời sấm truyền thiêng liêng
     Niềm căm thù đã biến thành hành động vùng lên giết kẻ thù.
    * Nguyên nhân của bi kịch:
    Tác giả như muốn để lịch sử phán truyền qua lời cụ Mết:
    - “Trong tay mày chỉ có hai bàn tay trắng”.
    - “Tau không nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không”
    * Chân lí của cuộc chiến đấu được đúc kết từ bi lịch đau thương của Tnú:
    - Muốn chiến thắng kẻ thù khong còn cách nào khác là phải cầm vũ khí đứng lên. Chân lí đó thể hiện sâu sắc qua lời cụ Mết muốn ghi tạc vào lòng thế hiện con cháu: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!”.
    - Khi chúng ta đã cầm giáo đứng lên chống lại súng đạn kẻ thù thì mọi thứ sẽ thay đổi.
    => Tóm lại:
    + Cuộc đời và con đường đấu tranh CM từ tự phát đến tự giác của Tnú tiêu biểu cho số phận và con đường cách mạng của đồng bào Tây Nguyên.
    + Vẻ đẹp và sức mạnh của Tnú là sự kết tinh của con người TN, con người VN trong cách mạng.
    c. Hình tượng đôi bàn tay Tnú:
    - Khi lành lặn: đó là đôi bàn tay trung thực, nghĩa tình:
    + bàn tay cầm phấn viết học chữ,
    + bàn tay tự trừng phạt mình học hay quên chữ,
    + bàn tay yêu thương khi cầm tay Mai sau ngày vượt ngục trở về,
    + bàn tay đặt lên bụng nói dõng dạc: "Cộng sản ở đây này…"
    - Khi bị thương:
    + Mười ngón đuốc rực cháy  biểu trưng cho sức mạnh, sự kiên cường bất khuất
    + Mỗi ngón cụt một đốt  chứng nhân tội ác dã man của kẻ thù, chứng tích đau thương nhắc nhở người dân Xô Man về chân lí cách mạng
    + Bóp cổ thằng giặc  sức mạnh tiêu diệt kẻ thù, bày tay trừng phạt, bàn tay quả báo
    => Đôi bàn tay mang tính cách, dấu ấn cuộc đời của Tnú.
    4. Mối quan hệ giữa hai hình tượng: rừng xà nu và Tnú:
    Hai hình tượng này cùng gắn bó khăng khít với nhau, bổ sung cho nhau để cùng phát triển:
    - Tác giả miêu tả rừng xà nu  nhằm gợi ra biểu tượng về đời sống, số phận và phẩm chất của dân làng Xô Man nói chung (trong đó có Tnú).
    - Cũng có khi Tnú được miêu tả bằng cách so sánh với cây xà nu:
    vết thương trên lưng do giặc tra tấn Tnú:
    “ứa một giọt máu đậm, từ sáng đến chiều thì đặc quện lại, tím thẫm như nhựa xà nu”.
    - Rừng xà nu không thể trải mãi đến chân trời trong màu xanh bất tận khi con người chưa thấm thía bài học rút ra từ cuộc đời Tnú:
    “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!”
    - Tnú cầm vũ khí chống kẻ thù:
    với mục đích cuối cùng là để giữ cho sự sống, cho cánh rừng xà nu mãi mãi sinh sôi.
    Một tù trưởng Tây Nguyên
    - Cụ Mết:
    + "quắc thước như một cây xà nu lớn"
    + Lưu giữ truyền thống anh hùng của dân làng qua các câu chuyện kể
    + Minh mẫn, trí tuệ, kiên trung, đã rút ra chân lí cách mạng
    4. Các nhân vật: cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng.
     Biểu tượng cho truyền thống, cho sức mạnh của dân làng.
    - Mai, Dít:
    + Thế hệ hiện tại
    + Dít khi nhỏ bị bắt, bị doạ dẫm vẫn "nhìn bọn giặc bình thản lạ lùng"
     là vẻ đẹp của sự kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh.
    Cô gái Tây Nguyên
    - Bé Heng:
    + quá khứ của Tnú
    + thế hệ tiếp nối con đường cách mạng của Tnú
     Kế tục truyền thống của cha anh để đưa cuộc chiến đến thắng lợi cuối cùng.
    Em bé Tây Nguyên
    => Bổ sung, hoàn chỉnh cho hình tượng Tnú, tạo nên bức tranh toàn cảnh, có tính chất sử thi về các thế hệ người Tây Nguyên chống Mĩ.
    5. Vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm:
    a. Tác phẩm mang đậm tính sử thi:
    - Đề tài: số phận và con đường giải phóng của dân làng Xôman  vấn đề của cả dân tộc
    - Hệ thống nhân vật:
    Mỗi nhân vật trong tác phẩm đều kết tinh cao độ vẻ đẹp, những phẩm chất và lí tưởng của cộng đồng trong chiến đấu (rừng xà nu, cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, bé Heng).
    - Cách kể chuyện:
    + Câu chuyện được kể bên bếp lửa qua lời của một già làng  lối kể "khan" và mang màu sắc huyền thoại về những anh hùng.
    + Ý nghĩa khái quát: Từ việc kể chuyện về một đời, một người, một miền quê, tác giả muốn nói đến chuyện của một thời, một nước.
    - Giọng kể:
    Trang trọng, hùng hồn, uy nghiêm  giọng điệu và ngôn ngữ trang trọng của sử thi.
    b. Màu sắc Tây Nguyên trong tác phẩm:
    - Màu sắc Tây Nguyên được thể hiện từ cảnh vật, chi tiết sinh hoạt, truyền thống văn hóa đến cái tên của từng nhân vật.
    - Bức tranh thiên nhiên, núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ, tạo ấn tượng hoành tráng cho câu chuyện.
    Văn hóa Tây Nguyên
    c. Cảm hứng lãng mạn:
    - Đề cao vẻ đẹp của thiên nhiên và con người trong sự đối lập với sự tàn bạo của kẻ thù.
    - Ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
    - Lời văn: trau chuốt, giàu sức tạo hình; giọng văn: tha thiết, thấm đẫm cảm xúc.
    Bác gặp gỡ người dân Tây Nguyên
    1. Nghệ thuật: Mục 1 Ghi nhớ.
    Qua truyện gắn Rừng xà nu, ta nhận thấy đặc điểm phong cách sử thi Nguyễn Trung Thành: hướng vào những vấn đề trọng đại của đời sống dân tộc với cái nhìn lịch sử và quan điểm cộng động.
    2. Chủ đề: Mục 2 Ghi nhớ.
    Rừng xà nu là thiên sử thi của thời đại mới. Tác phẩm đã đặt ra vấn đề có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời đại: phải cầm vũ khí đứng lên tiêu diệt kẻ thù bạo tàn để bảo vệ sự sống của đất nước, nhân dân.
    III.Tổng Kết:
    CỦNG CỐ
    - Hình tượng rừng xà nu được xây dựng như một biểu tượng của cuộc sống đau thương nhưng kiên cường và anh dũng.
    - Hình tượng Tnú, nhân vật trung tâm của tác phẩm, người anh hùng mà câu chuyện bi tráng về đời anh thể hiện chân lí lịch sử của dân tộc.
    - Chất sử thi và vẻ đẹp của ngôn ngữ kể chuyện.
     
     
     
    Gửi ý kiến
    print

    Chúc quý thầy cô và các bạn sức khỏe, thành đạt và hạnh phúc!