Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    DH.jpg DH.jpg DHCD.jpg Z743889188684_750ddc1c1c67f6e610071fb83b68d717.jpg IMG_1159.JPG IMG_1175.JPG IMG_1132.JPG IMG_1130.JPG IMG_1503019548485_1503019816147.jpg IMG_1503019545919_1503019569646.jpg IMG_1503019550527_1503019580881.jpg IMG_1503019553252_1503019587570.jpg IMG_1102.JPG IMG_1104.JPG IMG_1106.JPG IMG_1108.JPG IMG_1207.JPG IMG_1206.JPG IMG_1203.JPG IMG_1202.JPG

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Trạng nguyên Nguyễn TRực

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Thanh Huyền (trang riêng)
    Ngày gửi: 16h:25' 30-11-2015
    Dung lượng: 98.0 KB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 1 người (Tạ Duy Phương)
    Trong lịch sử khoa cử nước ta, số trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa kể tới hàng ngàn. Nhưng thật đáng tiếc, nhiều dấu tích của các trí thức lớn ấy lại mai một theo thời gian. May thay, từ đường của Trạng nguyên Nguyễn Trực - Trạng nguyên được ghi danh đầu tiên trên bia đá đề danh tiến sĩ tại văn miếu Quốc Tử Giám vẫn còn.
    Câu nổi tiếng nhất đánh giá về kẻ sĩ Việt Nam có lẽ thuộc về Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung khi viết: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và vươn cao. Nguyên khí suy thì thế nước yếu và xuống thấp. Bởi vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ có mối quan hệ thật là quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Vì thế cái ý tôn trọng họ thật là vô cùng, nên đã ban ân sủng bằng khoa danh, lại gia thêm bằng tước trật, ơn ban cho đã lớn, vẫn còn cho là chưa đủ”. Đó là câu khắc trên bia đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại bảo thứ ba đời vua Lê Thánh Tông. Tại khoa thi năm 1442 này, tên tuổi của Trạng nguyên Nguyễn Trực được ghi đầu tiên.
    Và cũng vẻ vang thời đại vua sáng sinh tôi hiền. Vua Lê Thánh Tông nổi tiếng là một trong những vị vua sáng nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam về việc xây dựng văn hoá dân tộc. Thời đại vua Lê Thánh Tông, Nho giáo phát triển thịnh trị. Luật Hồng Đức - một bộ luật khoa học và đầy tính nhân bản ra đời. Hiền tài liên tiếp nảy nở. Cùng với các văn thần vua cho lập Tao Đàn cùng xướng hoạ, luận bàn văn chương. Ở vào thời đại như vậy, Trạng nguyên Nguyễn Trực rất được trọng dụng, vì vậy, ông có điều kiện trổ tài kinh bang tế thế.
      Từ đường Trạng nguyên Nguyễn Trực ở làng Bối Khê
    
    Trạng nguyên Nguyễn Trực tên chữ là Công Dĩnh, hiệu Hu Liêu. Ông sinh năm 1417, trong một dòng họ nối đời khoa bảng. Cụ nội ông là Nguyễn Tử Hữu từng giữ chức Hàn lâm viện thị giảng kiểm Thẩm hình viện sự triều Trần. Ông nội là Nguyễn Bính - Huấn đạo phủ Ứng Thiên, một người nổi tiếng tài ba đức độ. Thân sinh Trạng nguyên là Nguyễn Thời (Thì) Trung, một nhà thơ khá nổi tiếng đầu thời Lê, từng làm quan trong triều, nổi tiếng thanh liêm đạo đức... Phu nhân trạng nguyên Nguyễn Trực là bà Đỗ Thị Chừng - người làng Nghĩa Bang, phủ Quốc Oai.
    Tương truyền, Nguyễn Trực từ bé đã nổi tiếng thần đồng. Mười tuổi đã đọc thông viết thạo Hán văn. Mười hai tuổi chỉ ham thích việc học. Mười tám tuổi đi thi Hương đã đỗ đầu. Năm 26 tuổi đỗ đầu thi Đình (Đệ nhất giáp, đệ nhất danh tiến sĩ) đứng đầu 33 tiến sĩ cùng khoá - cuộc thi do đích thân vua ra đề và chấm. Đến nay, bài thi đình của Nguyễn Trực được đánh giá là một trong những bài thi Đình hay nhất.
    Làm quan, kinh qua nhiều chức vụ lớn, Nguyễn Trực luôn giữ được phẩm cách nhà Nho. Ông thanh cao đến nỗi vua Lê Nhân Tông sai vẽ hình ông để bên cạnh ngai vàng để tỏ ý không lúc nào quên. Còn vua Lê Thánh Tông thì kính trọng sai văn thần đem bộ sách “Thiên Nam dư hạ” đến tận nơi ở của ông để tiện “biên tập”...
    Về danh vị “Lưỡng quốc trạng nguyên”, chuyện kể rằng: Khi đi sứ, bằng tài thơ phú và đối đáp, ông được vua Minh mến mộ và mời dự kỳ thi Đình. Không ngờ, ông lại đỗ đầu. Vì thế nên được vua nhà Minh phong “Lưỡng quốc trạng nguyên”. Lúc được vua giao tiếp sứ thần nhà Minh là Hoàng Gián, Nguyễn Trực đối đáp như thần, lại hạ bút họa ngay một lúc 50 vần thơ lưu biệt khiến sứ thần phương Bắc vô cùng thán phục... Dù làm quan to trong triều nhưng Nguyễn Trực mấy lần cáo quan muốn lui về vui thú điền viên nhưng không được. Đến khi ông mất, vua Lê Thánh Tông điếu rằng: “Đời dõi nho tông phát ấp bang; Trong đạo đức, có từ chương; Nối dòng thi lễ nhà truyền báu; Tranh giải khôi nguyên bảng chói vàng; Nam - Bắc hai triều danh vang; Phong lưu một cửa họ sang; Từ đường ở đấy niềm tây lạnh; Dấu cũ càng thơm xạ có hương”.
    Tài năng và sự uyên bác của Nguyễn Trực được bộc lộ rõ nét trong những tác phẩm văn chương mà ông để lại. Những áng văn thơ của ông thường bộc lộ rõ những hoài bão và tình yêu thiết tha với quê hương đất nước. Khi tuổi đã xế chiều, ông có những bài thơ thể hiện niềm thương
     
    Gửi ý kiến