Thời tiết hiện nay

Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh

Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

  • (vokimdientc@yahoo.com.vn)

Thư giản

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chức năng chính 1

    Chức năng chính 2

    Chức năng chính 3

    Chức năng chính 4

    Chức năng chính 5

    Kinh nghiệm bảng tổng hợp theo TT-32

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Võ Kim Điền
    Ngày gửi: 10h:45' 14-01-2011
    Dung lượng: 325.1 KB
    Số lượt tải: 132
    Số lượt thích: 0 người
    I/- ĐẶT VẤN ĐỀ:
    Ngày nay, khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc phát ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, công nghệ thông tin bước đầu đã được ứng dụng trong công tác quản lý, một số nơi đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục ở các trường còn rất hạn chế. Chúng ta cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng, nghiệp vụ giảng dạy, nghiệp vụ quản lý, chúng ta không nên từ chối những gì có sẵn mà lĩnh vực công nghệ thông tin mang lại, chúng ta nên biết cách tận dụng nó, biến nó thành công cụ hiệu quả cho công việc của mình, mục đích của mình. Hơn nữa, đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học. Công nghệ thông tin là phương tiện để tiến tới “xã hội học tập”. Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của công nghệ thông tin thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin. Bộ giáo dục và đào tạo cũng yêu cầu “đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng dẫn học công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn”.
    Thực hiện thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT, ngày 27 tháng 10 năm 2009 của Bộ GD&ĐT về Ban hành Quy định đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học.
    Do nhu cầu thu thập thông tin báo cáo sau mỗi kỳ thi định kỳ giáo viên thường nộp trễ các số liệu tổng hợp đánh giá và xếp loại các mặt như Hạnh kiểm, học lực và các môn đánh giá bằng nhận xét cho tổ khối trưởng từ đó khối trưởng không đủ số liệu tổng hợp toàn khối nộp cho ban giám hiệu, làm ảnh hưởng đến thời gian báo cáo về cấp trên. Qua nghiên cứu tìm hiểu từ giáo viên và tổ khối trưởng thì giáo viên nhập điểm kiểm tra định kỳ các môn vào sổ, từ điểm kiểm tra định kỳ giáo viên mới xếp loại học lực môn. Căn cứ vào học lực môn của các môn bằng điểm số, bằng nhận xét và xếp loại hạnh kiểm giáo viên mới tổng hợp xếp loại giáo dục (Giỏi, khá, trung bình, yếu). Từ kết quả xếp loại giáo dục giáo viên mới xét khen thưởng (danh hiệu học sinh giỏi cho các em xếp loại giáo dục là Giỏi; danh hiệu học sinh tiên tiến cho các me xếp loại giáo dục là Khá) và xét lên lớp cuối năm.
    Để Ban giám hiệu có đủ số liệu kịp thời để báo cáo về cấp trên, ở góc độ cán bộ quản lý chúng ta phải làm gì, và làm như thế nào?
    Từ những yêu cầu trên tôi mài mò, học hỏi trao đổi đồng nghiệp và tiến hành thực hiện bảng tổng hợp điểm theo thông tư 32/2009/TT-BGDĐT, ngày 27 tháng 10 năm 2009 về ban hành quy định đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học.

    II/- NỘI DUNG, BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT:
    1/- Quá trình phát triển kinh nghiệm:
    Năm đầu tiên thực hiện theo thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT, ngày 27 tháng 10 năm 2009 của Bộ Giáo dục - Đào tạo về Ban hành Quy định đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học giáo viên còn bở ngỡ, lúng túng khi thực hiện đánh giá và xếp loại hạnh kiểm, xếp loại học lực và đánh giá các môn học bằng nhận xét. Nhiều giáo viên còn hiểu nhằm giữa xếp loại học lực với xếp loại giáo dục.
    - Xếp loại học lực: là học lực môn của tiếng việt hoặc Toán (Khoa học, lịch sử và địa lí).
    - Xếp loại giáo dục: là kết quả tổng hợp của Xếp loại Hạnh kiểm, các môn đánh giá bằng điểm số và các môn đánh giá bằng nhận xét.
    Từ những vấn đề trên, giáo viên khi tổng hợp các số liệu nộp cho ban giám hiệu thường bị sai và phải làm lại nhiều lần làm ảnh hưởng đến chế độ báo cáo của trường. Vì lúc này bảng tổng hợp điểm không chỉ có một cột điểm mà có nhiều cột điểm (có cột điểm giáo viên phải cộng lại và chia trung bình), Hạnh kiểm, các môn bằng nhận xét. Giáo viên lúc này tổng hợp không chỉ một em, hai em mà cả lớp (35em – 38m).
    Ở góc độ ban giám hiệu tôi suy nghĩ tại sao ta phải lệ thuộc vào giáo viên chủ nhiệm mà không tự chủ trong khi điểm kiểm tra định kỳ, kết quả các môn bằng nhận xét và xếp loại Hạnh kiểm ta đều có
     
    Gửi ý kiến
    print

    Xem báo