SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM - KINH NGHIỆM DẠY TỤC NGỮ LỚP 4

Nhấn vào đây để tải về
Nhắn tin cho tác giả
Báo tài liệu sai quy định
Xem toàn màn hình
Mở thư mục chứa tài liệu này
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Cao Xuân Sơn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:44' 10-11-2010
Dung lượng: 297.4 KB
Số lượt tải: 25
Số lượt thích: 0 người
PHẦN THỨ NHẤT
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tục ngữ là những câu, bài ngắn gọn, đầy đủ ý nghĩa, biểu đạt những kinh nghiệm, những lời dạy vàng ngọc của cha ơng ta về thiên nhiên, về lao động sản xuất, về con người, về xã hội…Là một bộ phận văn học cĩ giá trị thẩm mĩ cao của dân tộc cần được giữ gìn.
Nhận thấy học sinh tiểu học ở nơi tơi đang cơng tác cịn chưa yêu thích và cĩ thĩi quen sử dụng ca dao tục ngữ. Các em rất ít vốn về tục ngữ, hạn chế về khả năng thuộc, nhớ lâu dài và vận dung tục ngữ vào giao tiếp trong đời sống hàng ngày, chưa cảm nhận được cái hay, cái quý báu của kho tàng tục ngữ của dân tộc.
Trong quá trình giảng dạy mơn Tiếng Việt ở khối 4&5 nhiều năm, cả thầy và trị chúng tơi đều gặp khĩ khăn trong khâu truyền thụ và lĩnh hội tục ngữ trong các tiết dạy do nhiều nguyên nhân khác nhau:
Trình độ chuyên mơn của thầy, lịng đam mê, trân trọng tục ngữ của thầy.
Do vùng địa lí mà bản thân học sinh ít được nghe, được nĩi các câu tục ngữ quen thuộc và dĩ nhiên học sinh ít vốn tục ngữ.
Từ nhiều năm nay, tơi luơn băn khoăn trăn trở và cĩ ý tưởng rằng phải tìm ra giải pháp tích cực để cung cấp vốn tục ngữ cho học sinh, giúp các em lĩnh hội và vận dụng vào giao tiếp một cách tích cực.
Năm học 2007-2008, tơi đã xây dựng những biện pháp, tích gĩp kinh nghiệm từ bản thân cùng với đồng nghiệp áp dụng vào quá trình giảng dạy và thu đựơc kết quả khả quan, được đồng nghiệp đồng tình và áp dụng cho năm học 2008-2009,2009-2010. Đĩ là: “Kinh nghiệm dạy tục ngữ ở lớp 4”.
PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG:
Thực trạng vốn tục ngữ của học sinh:
Việc thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học ở từng khối lớp của tiểu học đều cĩ lồng ghép những câu tục ngữ-thành ngữ (đơi khi cả một bài tục ngữ thuộc một chủ đề được xếp thành một tiết Tập đọc), các thành ngữ-tục ngữ cịn được xen kẽ đều đặn vào các tiết Luyện từ và câu. Tuy nhiên chúng tơi nhận thấy, sau khi học xong, học sinh ít nhớ những câu tục ngữ, khơng hiểu được nghĩa, thậm chí nhớ nhưng viết cịn sai chính tả. Ví dụ: Một con ngựa (đâu, đao) cả (tầu, tào) bỏ cỏ…, hoặc các câu cĩ hai vế đã được cho trước một vế nhưng vẫn cịn một số em khơng (điền/chọn) được vế cịn lại.
Chất lượng khảo sát:

2. Kết quả khảo sát học sinh trường tiểu học Mũi Né 4.
Được sự tạo điều kiện của giáo viên chủ nhiệm khối 5 tơi tiến hành khảo sát 40 em học sinh khối 5 vào giữa tháng 9 năm 2009 ( Tuần thứ ba của năm học 2009-2010) kết quả như sau:
Yêu cầu học sinh ghi lại những câu tục ngữ mà em biết - Thời gian là 35 phút
TSHS

SỐ HỌC SINH VIẾT ĐÚNG NHỮNG CÂU TỤC NGỮ
KHƠNG VIẾT ĐƯỢC HOẶC VIẾT SAI




40
>10 Câu
10 Câu
9 Câu
8 Câu
7 Câu
6 Câu
5 Câu
4 Câu
3 Câu
2 Câu
1 Câu



1
3
2
4
1
2
2
6
5
7
5
2


II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
Cơ sở lí luận:
Mục đích của việc đưa tục ngữ dạy trong môn Tiếng Việt ở lớp 4&5 là giúp học sinh nhớ, nói, viết, hiểu nghĩa ( lời khuyên bảo, răn dạy, kinh ngiệm trong cuộc sống ) mà các câu Tục ngữ trong và ngoài sách giáo khoa - dạy câu trong sách sau đó liên hệ những câu khác ( đồng, gần hay trái nghĩa) bao hàm.
Chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4&5 đã chắt lọc những câu tục ngữ ngắn gọn, có hình ảnh, vần điệu, dễ nhớ, phổ biến và phù hợp với lứa tuổi để cung cấp cho học sinh. Nhiệm vụ của giáo viên là kích thích sự hứng thú học tập của học sinh, giúp các em chủ động cảm nhận cái hay, cái đẹp và ý nghĩa giáo dục thông qua các câu tục ngữ đã được học, yêu thích vốn tục ngữ - ca dao của dân tộc. Thông qua tục ngữ để hướng các em đến cái đẹp, cái thiện một cách ngẫu nhiên.
Cơ sở thực tiễn:
Trong các tiết Luyện từ và câu, học sinh hầu như còn lúng túng, vận dụng chưa đúng, chưa hợp lí các câu tục ngữ vào