Day giai toan co loi van lop 3

Nhấn vào đây để tải về
Nhắn tin cho tác giả
Báo tài liệu sai quy định
Xem toàn màn hình
Mở thư mục chứa tài liệu này
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trịnh Văn Mạnh (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:54' 05-05-2012
Dung lượng: 17.2 KB
Số lượt tải: 325
Số lượt thích: 0 người
Phần I: Mở đầu

I. Lý do chọn viết sáng kiến kinh nghiệm
1. Cơ sở lí luận
Bậc học học có 1 vai trò, vị trí quan trọng trong ngành học phổ thông và nền giáo dục nước nhà. Chính vì vậy mà nhà trường tiểu học có yêu cầu và nhiệm vụ rất lớn, là nơi đặt nền móng, là nơi gây dựng lên thế hệ học sinh sau này phát triển toàn diện để đáp ứng với yêu cầu của XH, của đất nước.
Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người. Trong các môn học ở Tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng vì các kiến thức, kỹ năng của môn Toán có nhiều ứng dụng trong cuộc sống, nó rất cần thiết cho mọi người lao động nói chung và HS tiểu học nói riêng. Vì nó giúp cho các em học tập tốt các môn học khác và học tiếp môn Toán ở các lớp tiếp theo.
Trong bậc tiểu học, lớp 3 là lớp kết thúc giai đoạn đầu . Do đó phải chuẩn bị để HS có thể học tốt giai đoạn cuối của bậc tiểu học, đó là lớp 4 lớp 5
Trong lớp 3 môn Toán có vị trí quan trọng đặc biệt nhất là: Giải các bài toán có lời văn. Vì mỗi bài toán có lời văn thường là một tình huống có vấn đề cần giải quyết. Tình huống đó có thể phản ánh các vấn đề của thực tiễn.
Trong những năm gần đây, Sở GD luôn quan tâm mở nhiều cuộc chuyên đề về phương pháp dạy học mới ở các môn học đặc biệt là môn Toán nhằm phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS trong quá trình đi tìm tri thức và đạt được mục tiêu toàn diện của quá trình giáo dục.
Để đạt được điều đó, người GV cần nắm vững được yêu cầu nội dung và phương pháp giảng dạy môn Toán nói chung và hướng dẫn dạy giải toán có lời văn nói riêng.
Đặc trưng cơ bản của môn Toán nói chung và của giải toán có lời văn là học sinh phải đọc tốt để hiểu rõ bài toán và tìm ra cách giải phù hợp với bài toán đó và phù hợp với đối tượng học sinh cụ thể.
2. Cơ sở thực tiễn:
a. Đối với giáo viên:
Thực tế trong các nhà trường tiểu học hiện nay tôi nhận thấy một điều bất cập là đa phần các đồng chí giáo viên trẻ, có trình độ đào tạo và tay nghề giỏi đều được tập trung dạy ở lớp 4, lớp 5, còn một số giáo viên già, có trình độ nhận thức, trình độ chuyên môn còn hạn chế thường được phân công dạy ở lớp 2, lớp 3. Do nắm bắt với phương pháp dạy học mới còn hạn chế nên phần nào ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh.
b. Đối với học sinh:
ở lớp 1, lớp 2 các bài toán rất đơn giản, gắn liền với các thao tác cộng, trừ, nhân, chia, nội dung bài toán chưa chứa đựng về mặt tư duy mà nó ẩn trong ngôn ngữ. Khi giải các bài toán đó có thể thực hiện bằng một