CHUYẾN DÃ NGOẠI CUỐI CÙNG CỦA CÔ SINH VIÊN
(Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa
)
Sau Tết năm 1998, T. bỏ nhà ra đi. Một lá thư bốn trang giấy vở học trò để lại. Vẫn nét chữ mộc mạc của cô sinh viên ngoan ngoãn, hiền lành, nhưng lần này, lời Kính thưa ba mẹ... lại đột khởi cho một hành vi không hiếu thảo, ngoan hiền chút nào.
Ba mẹ T. đau khổ gần như điên dại. Dò hỏi bạn bè thân, sơ và trường, lớp của T.; bắn tin cho bạn bè, bà con thân thuộc – kể cả bà con ở ngoài Sàigòn hay tận dưới quê; lục tìm danh sách bệnh nhân trong các bệnh viện, trung tâm cấp cứu và cả nhà xác của những nơi này; đem ảnh của T. đến báo cho công an phường, đồng thời đăng lời rao trên mấy tờ báo và ti-vi; ra bưu điện đăng ký dịch vụ “ hiển thị số máy vừa gọi đến” v.v... Chỉ trong vòng vài ngày, ba mẹ, các em của T., thêm sự giúp sức của thân-bằng-quyến-thuộc, đã vận dụng hết mọi phương cách để truy tìm tin tức, hành tung của cô bé. T. vẫn biệt tăm. Rõ ràng, T. đã thành công cho ý định bỏ nhà ra đi, đi mãi không về...
Vào thập niên 60, Albert Camus, nhà văn Pháp, một trong những nhà tiền phong của nền văn học hiện sinh đang lên ngôi, đã để cho nhân vật của mình cũng ra đi. Một buổi tối, một người đàn ông bảo với vợ rằng ông ra phố mua gói thuốc lá. Rồi không bao giờ ông trở về nhà nữa... Từ lâu, ông đã âm thầm chịu đựng nỗi nhàm chán kéo dài của mọi sinh hoạt đời sống. Ngày ngày đến sở làm, vẫn những câu chào hỏi, bông lơn giả tạo, hờ hững, vẫn cái cà-vạt màu mè không-thay-đổi của anh đồng nghiệp. Rồi về nhà, vẫn những buổi tối lạnh lẽo ngồi đọc báo, xem ti-vi cùng người vợ quá đỗi trung bình, vẫn những câu gợi chuyện, hỏi han lập đi lập lại trong cuộc hôn nhân quá đỗi bình thường theo năm tháng... Sự đơn điệu, nhàm nản đến mức phi lý của cuộc đời đã đẩy ông đến chỗ phải quyết định đào thoát: ra đi!
Hồi đó, tuy chỉ là an ổn ngồi đọc Camus, nhưng mấy tên sinh viên mới lớn như tôi đã không thoát khỏi nỗi ám ảnh âm ĩ, nặng nề của Hư Vô, nhất là khi hiểu ra chính cuộc ra đi bởi “lý do triết lý” – một nhân sinh quan vô vọng – của người đàn ông trong truyện, kỳ cùng cũng không thoát khỏi nỗi phi lý dày đặc, bao trùm hiện hữu con người...
Rồi cách đây 10 năm, tưởng rằng đã đổi đời, sinh hoạt xã hội còn nhiều khó khăn thì không còn chỗ cho triết lý, tôi lại bị... biết một vụ bỏ nhà ra đi khác. Đó là vợ của một anh phóng viên một tờ báo Công giáo ở Sàigòn, chị coi sóc thư quán của tổ chức tôn giáo mà cả hai vợ chồng đều là tín đồ sùng đạo và có đức hạnh. Rồi một hôm, chị lặng lẽ bỏ đi không một lời giải thích để lại. Người chồng đau khổ và đáng kính – 10 năm qua, anh vẫn gà trống nuôi con và nuôi hy vọng...- cho biết bản tính vợ mình rất trầm lặng, rõ hơn là có bị bệnh trầm cảm, lại thích Thiền. Rồi ngẫu nhiên lại kết bạn thân thiết với một ni cô đến thư quán mua sách. Cho nên, anh chồng cố gắng tìm cách lý giải, rất có thể vợ anh đã bỏ nhà ra đi vì một “lý do tâm linh” u uẩn nào đó.
Còn cô sinh viên T. vừa ra đi thì bởi lý do gì, nếu không phải là lý do tâm linh hay triết lý? T. vốn là nữ sinh giỏi của trường trung học Pétrus Ký cũ (đang là trường phổ thông danh giá nhất Sàigòn), đã từng đoạt giải nhất, nhì các cuộc thi tiếng Nga cấp thành phố. Cô bé nhà chỉ-đủ-ăn này trội hơn những bạn học thuộc gia đình cán bộ cao cấp, giàu có (cũng phải học giỏi tương đối mới được tuyển vào trường) khi được quĩ bảo trợ Vì Ngày Mai Phát Triển do báo TT. vận động, cấp học bổng nhiều năm liền. Ở tuổi 22, T. sắp tốt nghiệp đại học khoa ngữ văn, còn chịu khó rèn thêm Anh ngữ trung cấp. Cô bé sống thiên về nội tâm, hơi khép kín với người xung quanh và chưa có bạn trai theo nghĩa bồ bịch yêu đương.
Nhân thân “lý lịch” là thế, sao T. đột ngột bỏ nhà ra đi? Tuy giữ khư khư chứng tích cuối cùng của con gái mình, nhưng mẹ T. cũng đã cho bạn bè nghiên cứu lá thư. Khó có thể khẳng định lập tức đây là thư tuyệt mạng vì trong thư không hề có các từ “chết, từ giã cõi đời, rời bỏ kiếp nhân sinh...” hay đại loại như thế. Phần lớn lá thư chỉ là sự bày tỏ lòng biết ơn công đức sinh thành, chưa báo đáp mà đã phạm tội bất hiếu, tình thương yêu dành hết cho cha mẹ và các em, lời nhắn nhủ các em phải chăm học và vâng lời... Nhưng đáng chú ý là sau khi tự cho việc ăn học của mình đã chất chồng lên gánh nặng kiếm sống khổ cực của ba mẹ, khiến cha phải quanh năm vất vả, khiến em trai kế phải bỏ học, đi làm..., T. đã lập lại hai lần trong thư mình viết, về ước mơ thiết tha được sớm đi làm đề giúp gia đình. Để rồi T. tự nhận xét: “Con đã thấy mình là người không thể nào thành đạt, bước vào đời thì con chỉ là thứ lục bình trôi giạt”.
Một người bạn nêu nghi vấn: “Có thể cháu T. thiếu sức khoẻ, thậm chí có thể đang bị một bệnh nan y, nên mới bi quan về tương lai mình?”. Cha T. đã giải đáp là tuy con gái mình có dáng gầy ốm nhưng lâu nay cháu không mắc một trọng bịnh nào, kết quả khám sức khoẻ tổng quát gần đây cũng bình thường. Mẹ T. cho biết là mẹ con chị rất gần gũi nhau, không có gì ngăn cản T. tâm sự, thố lộ về một bệnh nặng nào đó, ung thư chẳng hạn, nếu như cháu nó vừa biết là mình mắc phải. Loại trừ được lý do bệnh kín khiến con bỏ nhà ra đi nhưng bà mẹ cứ khóc mà nhắc mãi một câu chí tử trong thư “Ba mẹ đừng đi tìm con, vô ích”.
Tôi lại thấy điểm chí tử, căn nguyên của thảm cảnh, rất có thể nằm ở đoạn “không thể nào thành đạt”. Cô bé đã tuyệt vọng đến nổi không hề cho biết khi bỏ nhà ra đi thì sẽ đi đâu, làm việc gì để thay đổi, khắc chế nỗi ám ảnh “không thể thành đạt!”. Nhưng làm sao một cô sinh viên nết na, học giỏi lại hoàn toàn bi quan về năng lực của mình khi bước vào đời? Theo lời anh chị bạn thì nếp sống khép kín của con mình chỉ vài lúc xao động nhẹ nhàng, khi T. bước thử vào đời. Trong hai tháng sau Tết, T. có đi làm một công việc bán thời gian cho một công ty du lịch, rồi do bị chuyển sang làm ban đêm nên cô bé phải nghỉ, bỏ qua cơ hội lần đầu tiên đi làm ra tiền . Kế đó, đã rảnh rang nên T. tham dự một chuyến cắm trại dã ngoại của sinh viên tổ chức ba ngày ở vùng biển Phan Thiết. Và đây cũng là lần đầu tiên trong đời, hai đêm liền cô sinh viên hiền lành đã không ngủ ở nhà mình...
Có lẽ T. đã bắt đầu thầm lặng đau khổ, nhận ra những hạn chế nơi con người mình. Tốt nghiệp ngữ văn thì chỉ có thể đi dạy học hay làm việc ở các viện nghiên cứu, toàn những nơi thu nhập kém. Đằng này, T. đã nhắm vào các chỗ có lương bổng khá để mang về giúp ba mẹ, như ngành du lịch hay xuất nhập khẩu, nên đã nổ lực học Anh ngữ. Và chính nhờ chút vốn liếng Anh ngữ, T. mới được nhận vào làm “một buổi” ở công ty du lịch kia. Nhưng khi đã có mặt ở môi trường hoạt động của ngành du lịch, cô bé không tránh được tủi buồn, hụt hẫng khi thấy quá rõ giá trị của phần ngoại hình – lợi thế trời cho của nhân viên nữ và cũng là một điều kiện “ưu tiên” ghi trong những bảng thông báo tuyển dụng. Tuy trông cũng dễ mến nhưng đặt trong thang điểm dung mạo, vóc dáng thì cô bé chỉ đạt mức “trung bình yếu”. Làm sao tiến thân, lên chức, lên lương, ngay khi chỉ được làm ở bàn giấy? Ông giám đốc, ông trưởng phòng nào chẳng ưu ái một cô thư ký, một cô đồng nghiệp xinh đẹp, hấp dẫn? Hơn nữa, dù có thể châm chước cho sự “thiếu ngoại hình” thì những hoạt động nghề nghiệp làm ra nhiều tiền như T. nhắm đến bao giờ cũng tất bật, náo nhiệt, thậm chí chụp giựt, đãi bôi, “mồm mép đỡ chân tay”, làm sao phù hợp với bản tính nhút nhát, thiếu năng động nơi một thiếu nữ kém nhan sắc chỉ quen sống trầm lặng, khép kín , hướng nội.
Cảm nhận về sự bế tắc ước vọng đầu đời còn được cô sinh viên nghĩ suy, nghiền ngẫm trong những đêm ngủ ngoài trời, vào dịp đi dã ngoại ở miền biển. Đâu cần tới sức ma mị của những ca khúc sầu đời của TCS mà T. rất yêu thích như Phôi phai, Bên đời hiu quạnh, Cõi tạm..., chỉ cần ở hoàn cảnh xa cách không khí ấm cúng, quen thuộc của gia đình, một mình đối diện với bóng đêm câm nín, cô sinh viên mảnh khảnh đã sụp đổ tinh thần.!
Đôi khi..., ngậm ngùi như TCS, ta thấy mình chỉ là “ một thứ lục bình trôi giạt” vào những tháng ngày vô định. Bước vào đời, chọn một nghề nghiệp là chỉ mong giúp đỡ gia đình. Nhưng tương lai, sự nghiệp ta lại không có triển vọng, dù cho có nỗ lực trí tuệ đến đâu đi nữa. Có thúc thủ ở những nghề nghiệp không sáng sủa tiền tài khác như nghề dạy học, thì cũng chỉ là kiểu lục bình bèo bọt, không làm chủ được sự thăng tiến công danh. Thôi thì từ bỏ tất cả, để làm chuyến dã ngoại cuối cùng của đời mình. Chuyến dã ngoại xuôi về chốn Hư Vô!
“Không công danh nát với cỏ cây!”, thật sắt đá cho cái tư tưởng của ông nhà nho Nguyễn Công Trứ thế kỷ 19. Nhưng ở thế kỷ 20 và 21, không phải chỉ có bọn trẻ như T. phải học thuộc lòng mà cả người lớn cũng sống lấy cái tư tưởng khắc nghiệt ấy. Từ lâu rồi, thầm lặng dựng nên một nền văn hóa sính bằng cấp, đại đa số các gia đình cứ xua con cái vào lối đi rất hạn hẹp là vào đại học. Phải tốt nghiệp đại học để vào đời kiếm công danh! Mùa tuyển sinh ĐH hằng năm đã gây tốn hao không biết bao nhiêu là công sức, tiền bạc... của cả nuớc màvẫn luộm thuộm, kém trung thực. Trong một diễn đàn về đề tài “Đại học có phải là con đường duy nhất?”, có tới trên 600 ý kiến tham gia.
Giới học sinh thi rớt đành thôi học mà đi làm thì rên siết, bị stress nặng nề khi chỗ làm nào cũng đòi tiêu chuẩn ĐH, trong khi “ ví dụ cần nhân viên quản trị mạng thì kỹ thuật viên về mạng cũng đủ, tại sao phải cần tới đại học?”. Nhưng giới chủ công ty thú nhận cứ tuyển người dư điều kiện cho chắc ăn. Nhiều sinh viên, cán bộ xài bằng cấp giả bị vạch mặt... Thảm kịch xảy ra. Một học sinh trường NTH. vừa tự tử vì thi rớt. Một phụ huynh nói: “Nghe tin này tôi kinh hoảng, không dám rầy thằng con tôi nữa và nói với nó rằng, thôi, ba không cần con học ĐH, ba không cần sỉ diện với thiên hạ nữa, chỉ cần có con là đủ!”.
Tiếp theo gánh nặng học hành là gánh nặng thành đạt lại nặng trĩu trên vai bọn trẻ. Sắp tốt nghiệp đàng hoàng như cô sinh viên T. cũng nào có an ổn một khi những gia đình nghèo hay chỉ đủ ăn như ba mẹ T., chỉ biết kỳ vọng vào sự thành đạt của con cái để có cơ hội thoát nghèo, thoát khổ. Thảm kịch đã tiếp diễn...
Trong cuộc sống, lúc nào cũng có những sự việc không thể nào sửa chữa. Sau một năm không biết con mình sống chết thế nào, ba mẹ T, đã lập bàn thờ, ngày giỗ là ngày cô bé bỏ nhà ra đi. Sự ra đi không có “lý do triết lý”, “lý do tâm linh” mà chỉ vì “lý do xã hội - thời thế sính bằng cấp và thành đạt”. Trước kia, cô bé T. giỏi văn đã được đăng báo một truyện ngắn đầy cảm xúc, tựa là Chú chim nhỏ, còn được in lại trong một tuyển tập truyện học trò. T. kể chuyện một chú chim bị mưa bão phải dạt vào mái hiên nhà cô bé, được chăm sóc, cứu chữa xong thì chim bay đi, nhưng thật dễ thương, một hôm chú chim quay về, đậu hót ngoài hiên... Lần này thì chính cô bé tác giả, với tất cả mường tường tuyệt vọng về chính mình, đã chọn thân phận chú chim lạc loài, tắt tiếng hót, và điều đau xót là chú chim không bao giờ quay về nữa...
Theo Vietnet
Ngày 2/11/2005
Nguyễn Thị Huỳnh Trâm @ 18:09 24/06/2009
Số lượt xem: 58
Sao Trâm đưa bài này lên nhỉ ? Đừng có mà ...
Cô nhớ em, Trâm ạ.