SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 9

Nhấn vào đây để tải về
Nhắn tin cho tác giả
Báo tài liệu sai quy định
Xem toàn màn hình
Mở thư mục chứa tài liệu này
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trong Noi Nho (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:12' 17-02-2013
Dung lượng: 14.9 MB
Số lượt tải: 135
Số lượt thích: 0 người
CHUYÊN ĐỀ :
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 9
II/ ĐẶT VẤN ĐỀ :
Ngữ văn là một môn có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người. Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Mặt khác nó cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với rất nhiều các môn học khác trong các nhà trường phổ thông. Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn Điều đó đặt ra yêu cầu trong phương pháp dạy học tích cực là tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống.Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học văn là vô cùng quan trọng trong dạy học THCS vì nó có tác dụng tích cực hoá các hoạt động của học sinh làm cho các em hưng phấn trong việc lĩnh hội các tri thức .
II/ NỘI DUNG VÂN ĐỀ : / SỬ DỤNG BĐTD DẠY –HỌC NGỮ VĂN 9 :
1/ Dùng BĐTD dạy văn ( phân môn văn) :
Cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (Các nhánh)- BĐTD là công cụ đồ hoạ nối các hình ảnh đường nét có liên hệ với nhau, vì vậy BĐTD sẽ giúp HS dần dần hình thành cách ghi chép văn hiệu quả.có thể sử dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới giúp học sinh nắm vững kiến thức về tác giả, chiếm lĩnh cảm thụ tác phẩm văn học. Song đặc điểm của ngôn ngữ văn học là mang tính hình tựợng cần sử dụng chủ yếu phương pháp gợi tìm, giảng bình, nêu vấn đề chư không phải chủ yếu là phương pháp sơ đồ, bảng biểu nên không phải lúc nào cũng sử dụng thành công sơ đồ tư duy.
Đối với những tiết kiến thức nhiều không nặng về rèn luyện kĩ năng cảm thụ thì giáo viên có thể sử dụng sơ đồ tư duy cho toàn bài như dạy tiết giới thiệu về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều hay văn bản nhật dụng: Tuyên bố thê giới về quyền sống còn, bảo vệ phát triển của trẻ em,Đấu tranh cho một thê giới hòa bình .Còn đối với những văn bản thơ văn giáo viên có thể sử dụng trong hoạt động tổng kết về nội dung, nghệ thuật hoặc cho học sinh vẽ sơ đồ tư duy ở nhà để soạn bài trước khi đế lớp hoặc để củng cố lại toàn bộ kiến thức bài học.
Nếu sử dụng cho toàn bài, giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các tự liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện BĐTD. Qua BĐTD đó học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng.
Ví dụ : Dạy bài Truyện Kiều (tiết tìm hiểu chung về tác giả tác phẩm)
Giáo viên định hướng để học sinh khai thác kiến thức của bài học bằng hệ thống câu hỏi gợi mở. Trên cơ sở đó hình thành và củng cố kiến thức cho HS bằng BĐTD.
Hệ thống kiến thức của bài học bao gồm:
a. Tác giả bao gồm: Tiểu sử (thân thế, gia đình), cuộc đời, sự nghiệp sáng tác...
b. Tác phẩm:
+ Các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Du ở cả hai thành phần chữ (chữ Hán và chữ Nôm)
+ Thời gian và hoàn cảnh sáng tác, nguồn gốc của tác phẩm; đồng thời giáo viên gúp học sinh hiểu được vì sao Truyện Kiều có nguồn gốc từ Trung Quốc mà vẫn được coi là tác phẩm văn học Việt Nam ...
+ Tóm tắt Truyện Kiều: Bố cục của Truyện Kiều.
+ Giá trị của Truyện Kiều: Giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật.
Sơ đồ minh hoạ gợi ý của giáo viên



2/ Dùng BĐTD dạy Tiếng Việt :
Dạy Tiếng Việt cần chú trọng khâu thực hành luyện tập. Để học sinh làm tốt dạng bài tập nhận biết, dùng từ đặt câu, viết đoạn văn điều quan trọng đầu tiên là phải dạy cho học sinh nắm vững kiến thức lí thuyết. Sơ đồ tư duy sẽ giúp học sinh có sự hệ thống hóa kiến thức từng bài từng chương phần nhất là ở, so sánh, tích hợp, khắc sâu kiến thức nhanh bền chắc.
Ví dụ: Bài Các phương châm hội thoại
Để củng cố lại toàn bộ các phương châm hội thoại đã học,ở phần củng cồ (tiêt 2) của bài này, giáo viên cho học sinh hình