Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (dtuyet01@yahoo.com)
  • (tuyetdhn@stttc.edu.vn)
  • (dtuyet01@gmail.com)
  • (thocdsp@yahoo.com)
  • (hoangkhangby@yahoo.com.vn)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Slide0 Slide0 Pdf Word-logo Slide0 Word-logo Word-logo Word-logo Slide0 Word-logo Word-logo Word-logo Word-logo Word-logo Slide0 Word-logo Word-logo Slide0 Word-logo

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    ĐỒNG HỒ

    Chào mừng quý vị đến với website của Tổ Sinh-KTNN

    Chào mừng quý vị ghé tham website chúng tôi. Nếu quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, thì chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Chương 2. Mô thực vật

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Minh Thơ
    Ngày gửi: 22h:01' 19-05-2010
    Dung lượng: 3.5 MB
    Số lượt tải: 777
    Số lượt thích: 0 người
    GV: Nguyễn Thị Minh Thơ
    TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM SÓC TRĂNG
    HỌC PHẦN:HÌNH THÁI- GIẢI PHẪU HỌC THỰC VẬT
    Chương 2 – MÔ THỰC VẬT
    Chương 2 – MÔ THỰC VẬT
    I. MỤC TIÊU
    - Nắm được khái niệm về mô thực vật
    - Xác định mối liên quan giữa tế bào và mô
    - Phân biệt được nguồn gốc, cấu tạo, chức năng của các loại mô: mô phân sinh, mô che chở, mô dẫn, mô mềm, mô tiết. Qua đó chứng minh cấu tạo của từng loại mô phù hợp với chức năng của chúng.
    I. MỤC TIÊU
    - Khẳng định tầm quan trọng của mô phân sinh.
    Sinh viên có khả năng:
    - Vận dụng kiến thức đã học để giải thích một số hiện tượng thực tế, sản xuất có liên quan đến mô thực vật, hiểu sâu sắc và có khả năng trình bày những kiến thức về mô thực vật trong các bài học SGK SH 6.
    - Làm quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học qua các bài tập nghiên cứu nhỏ.
    1. KHÁI NIỆM VỀ MÔ THỰC VẬT

    - Nêu định nghĩa về mô TV? Ví dụ.
    - Mô TV bắt đầu xuất hiện ở nhóm thực vật nào?
    - Trong lịch sử phân loại mô đã có những quan điểm phân loại mô như thế nào? Quan điểm phân loại mô ngày nay dựa trên những cơ sở nào và hình thành mấy loại mô?
    1. KHÁI NIỆM VỀ MÔ THỰC VẬT
    Mô là tập hợp những tế bào có chung nguồn gốc, có hình dạng, cấu tạo giống nhau, cùng thực hiện một chức năng sinh lí.
    Ví dụ: Ở đầu ngọn cây, đầu cành cây có những tế bào non, cấu tạo, hình dạng giống nhau, có khả năng sinh sản rất mạnh làm cho thân và cành cây phát triển theo chiều dài, nhóm tế bào đó hợp thành mô phân sinh ngọn
    2. PHÂN LOẠI MÔ
    Chia thành 6 loại mô:
    mô phân sinh,
    mô che chở (mô bì),
    mô cơ (mô nâng đỡ),
    mô dẫn,
    mô mềm (mô sinh dưỡng)
    mô tiết.
    2.1. Mô phân sinh
    Nêu định nghĩa mô phân sinh?
    Các tế bào của mô phân sinh có những đặc điểm cấu tạo nào giúp chúng có thể phân chia rất nhanh và liên tục?
    2.1. Mô phân sinh
    2.1.1. Định nghĩa

    Mô phân sinh cấu tạo bởi những tế bào non chưa phân hoá, có khả năng phân chia rất nhanh và liên tục cho tới cuối đời sống của cây để tạo thành các mô khác.
    2.1.2. Đặc điểm chung
      Gồm những tế bào non, chưa phân hoá, thể lạp dưới dạng thể trước lạp, mạng lưới nội chất và ti thể ít phát triển. Tế bào hơi có góc, vì sự phân chia xảy ra liên tiếp khiến chúng không kịp tròn lại và đạt tới kích thước tối đa.

    2.1.2. Đặc điểm chung
    - Hình dạng tế bào không khác nhau ở các vị trí khác nhau: ở phần ngọn (thân, rễ) có đường kính gần đồng đều, còn ở tầng phát sinh thì hep, dài, hình thoi.
    - Kích thước tế bào nhỏ bé, chất tế bào đậm đặc, nhân to, các không bào nhỏ li ti.
    2.1.2. Đặc điểm chung
    - Tế bào xếp sít nhau không để hở các khoảng gian bào. Vách tế bào mỏng, nước chiếm tới 92,5%, ngoài ra còn chứa chủ yếu là pectin và hemixenlulozơ, rất ít xenlulozơ.
    - Khi mô phân sinh hoạt động phân chia mạnh thì tế bào thường không thấy rõ các bào quan.
    2.1.3. Các loại mô phân sinh

    + Dựa vào vị trí có thể chia mô phân sinh thành mấy loại?
    2.1.3. Các loại mô phân sinh
    - Mô phân sinh sơ cấp gồm: mô phân sinh ngọn (mô trước phân sinh) là mô không phân hoá, nằm trên ngọn chồi, đầu rễ và mô phân sinh lóng thường có ở các cây thuộc họ Lúa.
    - Mô phân sinh thứ cấp có nguồn gốc từ mô phân sinh sơ cấp, gồm tầng sinh trụ, tầng sinh vỏ (mô phân sinh bên).
    Hình. Lát cắt dọc của chồi ngọn

    2.1.3.1. Mô phân sinh ngọn (mô phân sinh sơ cấp)
    Mô phân sinh của nón tăng trưởng ở chồi là mô phân sinh đầu tiên, gồm một vài lớp tế bào khởi sinh. Các tế bào khởi sinh phân chia liên tục, hình thành nên các loại mô phân sinh phân hoá:
    - Tầng sinh bì -> hình thành nên mô bì
    - Mô trước phát sinh -> hình thành nên mô dẫn
    - Mô phân sinh cơ bản -> hình thành nên mô cơ bản
    2.1.3.2. Mô phân sinh gióng (lóng)
    Mô phân sinh gióng cũng là mô phân sinh sơ cấp. Ở cây họ Lúa và một số họ khác, thân cây chỉ có mọc dài ở ngọn mà còn mọc dài ra ở phần gốc ở mỗi gióng.
    - Tại sao cỏ khi đổ lại có thể tự đứng lên ?
    - Các cây cỏ như mần trầu, cỏ may, cỏ gà, cỏ dùi trống ... và cả cây lúa khi bị tác động của các điều kiện bên ngoài như: mưa to, bão lớn, trâu bò dẫm gạp,... chúng bị đỗ, nằm gí xuống đất, nhưng chỉ trong một thời gian lại tự đứng dậy. Vì sao có hiện tượng lạ như vậy ?
    2.1.3.2. Mô phân sinh gióng (lóng)
    Mô phân sinh gióng hình thành từ mô phân sinh ngọn trong quá trình phân hoá từ chồi. Tuỳ thuộc vào từng loài, vào độ dài ở phần gốc của mỗi gióng mà mô phân sinh ngừng hoạt động để phân hoá thành tế bào của mô trưởng thành. Nhưng cũng có các mô phân sinh gióng mà nhiều cây khi bị gẫy thì gẫy ở đoạn gốc của mỗi gióng như tre, mía ...
    2.1.3.3. Mô phân sinh bên (mô phân sinh thứ cấp)
    Mô phân sinh bên làm rễ và thân cây tăng trưởng theo chiều ngang, cấu tạo bởi tầng tế bào non, sinh sản lần lượt theo mặt ngoài và mặt trong thành 2 lớp tế bào non mới, dần dần phân hoá thành 2 thứ mô khác nhau.

    Hình. Mô phân sinh bên
    1. Tầng sinh trụ; 2. Tầng sinh vỏ
    2.1.3.3. Mô phân sinh bên (mô phân sinh thứ cấp)
    Tầng sinh vỏ (tầng sinh bần): nằm ở phần vỏ của rễ và thân cây, cấu tạo bởi nhiều tế bào có hình dạng cạnh, đôi khi kéo dài theo cơ quan trục, vách mỏng, không bào phát triển, có thể chứa tanin, tinh bột ... Các tế bào xếp xích nhau, chúng phân chia nhiều lần, tạo ra bên ngoài là lớp bần và bên trong là lớp vỏ lục.
    Tập hợp cả ba lớp : bần, tầng sinh vỏ và vỏ lục gọi là chu bì.
    2.1.3.3. Mô phân sinh bên (mô phân sinh thứ cấp)
    Tầng sinh trụ: nằm trong trụ giữa của rễ và thân, làm thành một khối lớp liên tục hay dưới dạng những dãy riêng biệt giữa gỗ và libe. Phía ngoài sinh ra những tế bào libe thứ cấp có chức năng dẫn nhựa luyện; phía trong sinh ra những tế bào gỗ thứ cấp làm chức năng dẫn nhựa nguyên.
    Số lượng tế bào gỗ nhiều gấp 3-4 lần libe, do đó gỗ thường phát triển mạnh hơn libe.
    Thảo luận nhóm đôi
    + Tầng sinh vỏ và tầng sinh trụ có vai trò gì trong sự sinh trưởng của cây?
    + So sánh những điểm giống và khác nhau của mô phân sinh sơ cấp và mô phân sinh thứ cấp?
    2.2. Mô che chở (mô bì)
    2.2.1. Định nghĩa
    Mô che chở bao bọc toàn bộ phía ngoài cơ thể thực vật, có chức năng bảo vệ các mô bên trong khỏi các tác động vật lý, hoá học hay sự phá hoại của các sinh vật khác, đồng thời trao đổi chất với môi trường ngoài.
    2.2.2. Các loại mô che chở
    2.2.2.1. Mô che chở sơ cấp – biểu bì
    Mô che chở sơ cấp của tất cả các cơ quan được gọi là biểu bì, được hình thành từ mô phân sinh ngọn, có chức năng che chở cho lá, thân non, rễ non và các cơ quan sinh sản.

    Biểu bì có thể tồn tại suốt đời sống của cơ quan (ở lá cây và cây một lá mầm) hay chỉ một thời gian và sau đó được thay thế bằng mô che chở thứ cấp (ở thân và rễ cây hai lá mầm).
    2.2.2.1. Mô che chở sơ cấp – biểu bì
    - Quan sát hình, nhận xét:
    + Hình dạng, cấu tạo của các tế bào biểu bì ?
    + Các tế bào biểu bì có đặc điểm gì chung nhất ?
    + Các cơ quan của thực vật được bao bọc kín bởi các tế bào biểu bì, theo bạn các cơ quan đó được thực hiện trao đổi chất với môi trường như thế nào ?
    Hình. Biểu bì lá khoai lang
    1. Biểu bì dưới; 2. Biểu bì trên
    Hình . Biểu bì lá cỏ chông
     
    2.2.2.1. Mô che chở sơ cấp – biểu bì
    Biểu bì được hình thành trong quá trình phát triển từ lớp nguyên bì của mô phân sinh ngọn, tồn tại cho đến hết đời sống của cơ quan hoặc đến khi được mô thứ cấp thay thế. Tế bào biểu bì được gắn chặt với nhau nên dễ bị bóc, tách ra.
    Tế bào biểu bì có nhiều hình dạng khác nhau. Hình dạng tế bào phụ thuộc phần lớn vào hình dạng của cơ quan mà nó bảo vệ, che chở.
    2.2.2.1. Mô che chở sơ cấp – biểu bì
    Tế bào biểu bì thường có dạng phiến, xếp xích nhau. Vách tế bào thường thẳng, cũng có khi ngoằn ngoèo, thường rất dày không đồng đều ở các phía. Vách ngoài dày hơn nhiều so với vách bên và vách trong.
    Trên bề mặt của tế bào biểu bì thường được phủ một số lớp như: lớp cuticun; lớp sáp mỏng; có khi thấm chất ligin (cói, lá thông …), muối canxi, chất silic (cỏ tháp bút, cói, cỏ tranh).
    Hình. Biểu bì lá lẻ bạn
    a. Hình cắt ngang; b. Hình nhìn từ bề mặt
    1. Vách ngoài; 2. Vách bên; 3. Vách trong; 4. Lỗ khí
    Cấu tạo của tế bào biểu bì:
    - Khi còn non, khoan tế bào chứa đầy chất tế bào với một nhân tròn và một số thể lạp nhỏ (như ở lá khoai lan, thài lài tía), đó là những lạp không màu, tập trung quanh nhân.

    Cấu tạo của tế bào biểu bì:
    Khi tế bào trưởng thành, không bào phát triển mạnh, dồn chất tế bào ra sát vách, các lạp thể thường bị hủy hoại. Không bào chứa dịch tế bào trong suốt hoặc có màu do chất màu hòa tan.

    Tế bào thường không có lục lạp, trừ một số loài cây sống trong bóng hoặc sống chìm dưới nước. Ngoài ra, trong tế bào còn có chứa tinh thể oxalat canxi hay cacbonat canxi.
    Cấu tạo của tế bào biểu bì:
    Đa số biểu bì chỉ gồm một tế bào. Một số cây biểu bì có thể có từ hai đến nhiều lớp tế bào như các cây trong họ Dâu tầm (chi ficus), họ Gai, họ Bông …
    Biểu bì có hai chức năng :
    +Bảo vệ, che chở cho các mô bên trong.
    + Đảm nhận chức năng trao đổi khí giữa cây với môi trường.
    b. Lỗ khí
    - Lỗ khí có cấu tạo và chức năng như thế nào?
    - Có phải thực vật nào cũng có lỗ khí ?
    - Lỗ khí phân bố nhiều ở biểu bì trên hay biểu bì dưới của lá ? Tại sao ?
    Hình 2.6. Cấu tạo lỗ khí
    A. Nhìn thẳng từ trên xuống; B. Nhìn theo mặt cắt ngang
    1. Khe lỗ khí; 2. Tế bào lỗ khí; 3. Cửa trước; 4. Cửa sau;
    5. Khoang khí; 6. Tầng cuticun; 7. Nhân tế bào;
    8. Hạt lục lạp
    b. Lỗ khí
    Là một thành phần cấu tạo của biểu bì, gồm một khe hở nằm giữa 2 tế bào lỗ khí (tế bào bảo vệ) hình hạt đậu hay hình thận. Hai tế bào này úp mặt lõm vào nhau, hai đầu gần dính liền nhau chừa ra khe lỗ khí ở giữa.
    Quan sát trên lát cắt ngang, khe lỗ khí có khoang nhỏ ở phía trên gọi là cửa trước và ở phía dưới là cửa sau. Cửa sau thông trực tiếp với khoang trống ở phía dưới lỗ khí gọi là khoang khí.
    Cơ chế đóng mở lỗ khí có thể giải thích như thế nào ?
    Cơ chế đóng mở lỗ khí
    Tế bào lỗ khí có chứa lạp lục, nhờ đó khi ở ngoài sáng chúng tiến hành quang hợp và tạo thành đường, làm tăng nồng độ của dịch tế bào, nước của các tế bào bên cạnh vào tế bào lỗ khí. Do vách ngoài của tế bào mỏng, dễ co giản còn vách trong rất dày chịu được sức kéo căn làm lỗ khí mở ra.
    c. Lỗ nước
    - Lỗ nước khác lỗ khí như thế nào?
    c. Lỗ nước
    Lỗ nước trông giống như lỗ khí nhưng khe lỗ ở đây luôn luôn mở vì vách tế bào của nó không có khả năng co giản. Ở phía dưới, chỗ lỗ tiết nước ra ngoài có một khối tế bào mô mềm nhỏ, không chứa lạp lục gọi là mô nước.
    Hệ thống dẫn nước (mạch xoắn) đưa nước vào mô nước rồi sẽ thoát ra ngoài qua lỗ nước
    d. Lông
    Trình bày đặc điểm cấu tạo và chức năng của các loại lông ?
    Hình. Lông che chở
    1. Lông đơn bào ở lá sắn; 2. Lông đa bào một dãy ở thân bí ngô;
    3. Lông đa bào hình sao ở lá dương xỉ;
    4. Lông đa bào phân nhánh ở kẻ hoa đào
    Hình. Lông tiết
    1. Lông tiết ở cây bắt ruồi; 2. Lông tiết ở thân bí ngô 
    2.2.2.2. Mô che chở thứ cấp – chu bì và thụ bì
    a. Chu bì
    - Chu bì được hình thành như thế nào ?
    - Chu bì có tồn tại suốt đời sống của cây không?
    Các tế bào ở lớp bần có đặc điểm như thế nào?
    - Các tế bào ở tầng sinh vỏ có đặc điểm như thế nào ?
    - Lỗ vỏ được hình thành như thế nào ?
    - Lớp bần

    Gồm những tế bào chết, hình phiến dẹp xếp theo từng dãy xuyên tâm đều đặn. Vách tế bào hoá bần do thấm chất suberin, chính do chất suberin này làm tế bào mất nội chất sống. Tế bào thường rỗng, không nội chất, không màu hay có màu vàng, màu nâu. Các tế bào bần xếp sít nhau không để hở những khoảng gian bào.

    - Lớp bần
    Bần có đặc tính là không thấm và khí nên tầng bần có tác dụng bảo vệ cho cây khỏi bị mất nước, chống sự xâm nhập của vi sinh vật, nấm, bảo vệ cho các mô bên trong khỏi bị phá hoại.
    - Tầng sinh vỏ (tầng sinh bần, tầng phát sinh bần lục bì)
    Tầng sinh vỏ bao gồm những tế bào sống có khả năng phân chia (thuộc mô phân sinh).

    Tầng sinh vỏ phân chia liên tiếp theo hướng tiếp tuyến, phía ngoài cho các tế bào bần, phía trong cho các tế bào vỏ lục (lục bì).
    - Lớp vỏ lục (lục bì)

    Lớp vỏ lục có nguồn gốc chung của mô bì thứ cấp, do tầng sinh vỏ sinh ra.
    Những cây không có cấu tạo thứ cấp như các cây một lá mầm thì không có vỏ lục, còn nhiều cây lớp vỏ lục gồm một đến ba lớp tế bào hoặc nhiều hơn. Số lớp tế bào không những thay đổi theo loài mà còn thay đổi theo tuổi của cây.
    Tế bào của lớp vỏ lục giống tế bào mô mềm vỏ, nhưng bên trong có các hạt diệp lục, vách tế bào bằng xenlulozơ, đôi khi hoá gỗ.
    Hình. Lỗ vỏ
    - Lỗ vỏ
    Quá trình hình thành lỗ vỏ diễn ra như sau:
    - Đầu tiên, những tế bào ở miền dưới lỗ khí trong tầng sinh vỏ phân chia, cho ra phía ngoài các tế bào hình tròn hay bầu dục, không chứa diệp lục, vách mỏng, không hoá bần gọi là các tế bào bổ sung.
    - Các tế bào bổ sung xếp không sít nhau mà để chừa lại nhiều khoảng gian bào làm cho không khí ở vào lọt vào và hơi nước ở trong thoát ra ngoài dễ dàng.
    - Lỗ vỏ
    - Các tế bào bổ sung chiếm đầy khoang dưới lỗ khí cũ, xé rách biểu bì và phình ra ngoài tạo thành các u nổi.
    - Những tế bào bổ sung ở về sau chết đi bong ra.
    Lúc này tầng sinh vỏ lại sinh ra các tế bào bổ sung mới thay thế vào các tế bào đã chết. Tầng sinh vỏ ở lỗ vỏ thường nối liền với tầng sinh vỏ của chu bì thành một dãy liên tục.
    b. Thụ bì
    - Thụ bì được hình thành như thế nào ?
    - Thụ bì có tồn tại suốt đời sống của cây không ?
    - Có phải tất cả các loại cây đều có thụ bì ?
    b. Thụ bì
    Gặp ở những cây có nhiều lớp chu bì do có nhiều tầng sinh vỏ.
    Các tầng sinh vỏ này xuất hiện sâu dần vào phía trong, thay thế cho các tầng ngoài chết đi. Lúc đó toàn bộ các mô nằm bên ngoài tầng sinh vỏ mới đều chết đi do bị lớp bần mới hình thành ngăn cách.
    Tập hợp tất cả các mô chết ở phía ngoài tầng sinh vỏ gọi là thụ bì (hay vỏ chết).
    Hình. Thụ bì
    2.3. Mô cơ (mô nâng đỡ)
    - Định nghĩa mô cơ.
    - Đặc điểm chung của các tế bào mô cơ.
    - Mô cơ được phân loại như thế nào ? Cơ sở để phân loại.
    2.3.2. Các loại mô cơ
    2.3.2.1. Mô dày (hậu mô)
    2.3.2.1. Mô dày (hậu mô)
    Mô dày gồm những tế bào sống, có vách sơ cấp dày bằng xenlulozơ, không hoá gỗ, thường chứa lạp lục.
    Mô dày được coi là mô mềm có vách dày, chuyên hoá với chức năng cơ học, được nhuộm hồng bởi son phèn.
    2.3.2.1. Mô dày (hậu mô)
    Các tế bào mô dày thường có vách dày lên nhưng không đồng đều ở các phía; các tế bào thường xếp thành một vòng liên tục hay thành từng dãy, từng đám riêng quanh cơ quan.
    Quan sát hình và nêu sự khác biệt giữa các loại mô dày?
    2.3.2.1. Mô dày (hậu mô)
    a) Mô dày góc: chỗ dày lên của vách tế bào nằm ở góc tế bào như ở thân các cây bóng nước, nhọ nồi, bần, gáo trong họ cafe, cà gai, bí ngô; trong cuống lá cần tây, cà rốt … Vách dày của 3 – 4 tế bào liền nhau giúp cho mô có tính đàn hồi và mềm dẻo khi bị va chạm
    b) Mô dày phiến: vách tế bào dày lên theo hướng tiếp tuyến như ở thân cây cơm cháy, sen cạn, rau má …
    Hình . Mô dày xốp
    Hình. Mô dày tròn
    2.3.2.1. Mô dày (hậu mô)
    c) Mô dày xốp: ở giữa các tế bào của mô dày có khoảng gian bào, vách tế bào chỉ dày lên ở chỗ tiếp giáp với gian bào như ở thân các cây rau muối, rau diếp, su hào.
    .
    d) Mô dày tròn: Sự dày lên của vách tế bào xảy ra đều đặn xung quanh tế bào như ở cuống lá gạo.
    2.3.2.2 Mô cứng (cương mô)
    - Quan sát hình, mô tả các loại mô cứng
    Hình. Tế bào đá ở lá chè
    a. Tế bào đá
    Tế bào đá là những tế bào chết, có vách hoá gỗ rất dày, bịt gần kín khoang tế bào chỉ để lại một khe hẹp.
    Hình dạng, kích thước của tế bào đá rất khác nhau. Vách tế bào cấu tạo thành từng lớp, trên đó có những lỗ đơn, lỗ phân nhánh hay lỗ tịt. Tế bào thường đứng riêng lẻ hoặc tạo thành từng đám lớn cứng rắn, có nguồn gốc từ các mô phân sinh, mô mềm cơ bản hay mô xốp.
    b. Sợi
    Sợi cấu tạo bởi những tế bào hình thoi dài, hẹp, vách rất dày, hoá gỗ nhiều hay ít, khoang tế bào rất hẹp. Tế bào sợi nằm từng đám hay thành từng dãy, hoặc thành vòng liên tục bao quanh bó dẫn của thân, cuống lá.
    Sợi có cả trong phần libe và phần gỗ của cây.
    Người ta chia sợi làm 2 nhóm: sợi libe và sợi gỗ.
    - Sợi libe: nằm trong phần libe.
    Tế bào sợi libe có chiều dài từ 2mm đến 400mm có khi 500 – 1000mm (như sợi gai), đường kính khoảng vài chục micromet.
    Khi còn non, sợi libe là các tế bào sống, chứa chất tế bào, nhân và các hạt tinh bột; khi trưởng thành, chất tế bào chết đi, vách tế bào phát triển rất dày làm khoang tế bào hẹp lại.
    - Sợi libe
    Vách tế bào sợi libe bằng xenlulozơ nhưng thường hoá gỗ sớm. Các sợi libe xếp xoắn thành bó sợi. Tập hợp các bó sợi đó lại thành libe cứng. Do cấu tạo như vậy nên sợi libe bền vững, dẻo dai.

    Sợi libe có nguồn gốc khác nhau: Sợi libe sơ cấp; Sợi libe thứ cấp
    Hình. Sợi libe ở thân dâm bụt
    b. Sợi
    Sợi gỗ:
    Có trong phần gỗ của cây, là những tế bào hình thoi, vách dày, hoá gỗ. Các sợi gỗ dài và hẹp nhưng ngắn hơn sợi libe. Trong dác và ròng, sợi gỗ và các yếu tố gỗ khác chiếm phần chủ yếu.
    Hình. Sợi gỗ ở rễ lưỡi đòng
    2.3.3. Vị trí các mô nâng đỡ trong cây
    Mô cơ có ở những vị trí nào trong cây ?
    2.3.3. Vị trí các mô nâng đỡ trong cây
    Mô cơ vững chắc, có khả năng đàn hồi lớn. Vách các tế bào mô cứng có sức chống gãy và chống cong không kém thép, vì vây mô cứng có thể bị đè nén mà không bị biến dạng.
    Trong thân cây có tiết diện hình vuông, mô nâng đỡ có 4 gốc của thân cây, còn trong các thân cây tròn, có tác dụng chống lại tác động của gió bão.

    2.3.3. Vị trí các mô nâng đỡ trong cây
    Trong rễ cây, mô nâng đỡ lại tập trung ở vùng trung tâm có tác dụng chống lại trọng lực đè từ trên xuống.
    Do những tính chất trên, mà nhiều cây thân gỗ được sử dụng làm cột nhà, trụ cầu, tà vẹt....
    2.4. Mô dẫn
    - Định nghĩa mô dẫn.
    - Đặc điểm chung của các tế bào mô dẫn.
    - Mô dẫn được phân loại như thế nào ? Cơ sở để phân loại.
    2.4. Mô dẫn
    2.4.1. Định nghĩa
    Mô dẫn là một tổ chức chuyên hoá cao, cấu tạo bởi những tế bào dài, xếp nối tiếp thành những dãy dọc song song với trục của cơ quan, có chức năng dẫn nhựa.
    2.4. Mô dẫn
    2.4.2. Các loại mô dẫn
    Có 2 loại mô dẫn là: gỗ (xilem) và libe (phloem)
    2.4.2.1. Gỗ
    Các yếu tố của gỗ:
    gồm ba thành phần: quản bào và mạch gỗ, sợi gỗ, mô mềm gỗ.
    + Quản bào
    Là các tế bào hình thoi, chết, nhọn hai đầu, xếp nối tiếp nhau. Nhựa nguyên chuyển từ quản bào này sang quản bào khác qua các vách ngăn không hoá gỗ. Vách bên, ở mặt trong dày lên, hoá gỗ. Sự dày lên này không đồng đều, có chỗ vách vẫn còn mỏng và bằng xenlulozơ xen lẫn với những chỗ dày hoá gỗ.
    2.4. Mô dẫn
    Tuỳ theo hình dạng của những chỗ dày hoá gỗ, người ta phân biệt các loại quản bào sau:
    Quản bào vòng
    Quản bào xoắn
    Quản bào thang
    Quản bào điểm (hay quản bào núm)
    Hình. Các loại quản bào
    1. Quản bào xoắn; 2. Quản bào thang;
    3. Quản bào núm
    H.. Các kiểu dày lên thứ cấp trên vách của các thành phần mạch sơ cấp
    ở cây mộc hương Aristolochia. (A) lát cắt ngang, (B) lát cắt dọc

    + Quản bào
    Hai hướng chuyên hoá của quản bào là:
    - Hoàn thiện chức năng dẫn truyền, thể hiện rõ các quản bào dạng mạch.
    - Thích nghi với chức năng cơ học và giảm nhẹ chức năng dẫn truyền, thể hiện rõ ở quản bào dạng sợi
    + Mạch gỗ (mạch thông)
    * Quan sát hình, mô tả cấu tạo của mạch gỗ?.
    + Mạch gỗ (mạch thông)
    Gồm các tế bào xếp nối tiếp nhau thành dãy dọc trong cây, dài trung bình 10 – 15 cm, ở các dây leo có khi dài 3 – 5 m. Đó là các tế bào chết, các vách ngăn ngang đã có sự thủng lỗ nên tạo thành những ống thông (gọi là thành phần mạch), vách bên dày và hoá gỗ theo nhiều kiểu khác nhau, bên trong không có chất tế bào.
    Hình. Mạch xoắn
    Hình. Mạch vòng
    Hình. Mạch thang
    Hình. Mạch điểm
    + Mạch gỗ (mạch thông)
    Cấu tạo mạch gỗ có các kiểu thùng lỗ:
    Thủng lỗ kép: Bản lỗ thủng (di tích còn lại của vách ngăn giữa các tế bào) gồm nhiều lỗ thủng nhỏ riêng biệt. Thủng lỗ kép có dạng.
    Thủng lỗ hình mạng: Vách ngăn ngang có nhiều lỗ xếp không theo một trật tự nhất định.
    + Mạch gỗ (mạch thông)
    Thủng lỗ hình thang: lỗ thủng hẹp, dài, xếp song song với nhau.
    Thủng lỗ rây: có nhiều thủng lỗ tròn, thường gặp ở một số cây hạt trần như dây gắm, ma hoàng.
    Thủng lỗ đơn: Đây là kiểu chuyên hoá nhất, phổ biến các cây hạt kín. Bản thủng lỗ chỉ có một lỗ duy nhất, to và rộng để lại ở mép vách ngăn ngang một gờ nhỏ.
    - Sợi gỗ
    Có chức năng nâng đỡ, gồm những tế bào chết, có vách hoá gỗ rất dày, khoang tế bào rất hẹp. Số lượng càng nhiều, vách sợi càng dày thì sức chịu đựng cơ học của cây càng cao, gỗ càng tốt. Sợi gỗ chỉ có thực vật hạt kín, ở các cây hạt trần và một số cây hạt kín nguyên thuỷ chưa có sợi gỗ.
    - Mô mềm gỗ
    làm chức năng dự trữ. Tế bào sống, có vách hoá gỗ hoặc vẫn bằng xenlulozơ, nội chất ở trạng thái hoạt động lâu, có khả năng tích luỹ chất hữu cơ, tinh thể và tinh dầu ...
    b. Gỗ sơ cấp
    Gỗ sơ cấp được hình thành từ tầng trước phát sinh, ở các cây không có cấu tạo thứ cấp thì gỗ sơ cấp tồn tại suốt đời sống của cây.
    Gỗ sơ cấp gồm gỗ trước và gỗ sau.
    - Gỗ trước gồm quản bào và các mạch có tiết diện bé. Thành bên của chúng dày theo kiểu vòng, xoắn, không ngăn cản sự phát triển theo chiều dài, không có sợi.

    b. Gỗ sơ cấp
    Gỗ sau hình thành khi cơ quan kết thúc phát triển về chiều dài.
    Gỗ sau gồm: mạch thang và mạch điểm, sợi và mô mềm gỗ, tạo thành một khối rắn chắc.
    c. Gỗ thứ cấp
    Gỗ thứ cấp là đặc tính chủ yếu của đa số cây Hai lá mầm và cây hạt trần. Nó được hình thành từ tầng phát sinh (tầng sinh trụ). Ở các thân cây gỗ, gỗ thứ cấp được tích luỹ từ năm này sang năm khác.

    Thành phần, chất lượng, cấu tạo mạch gỗ thứ cấp thay đổi theo tuổi trưởng thành của cây.

    c. Gỗ thứ cấp
    Hệ thống tổ chức của tế bào trong gỗ thứ cấp được xếp theo hai hướng: hướng dọc theo trục và hướng xuyên tâm theo tia; hệ thống này liên kết chặt chẽ với nhau cả về nguồn gốc cấu tạo và chức năng.

    Các yếu tố của gỗ thứ cấp có thể được chuyên hoá theo các mức độ khác nhau, tạo nên những phần hoạt động tương ứng là dác và ròng.
    c. Gỗ thứ cấp
    c. Gỗ thứ cấp
    Dác là lớp gỗ màu sáng ở phía ngoài, gồm những tế bào mạch gỗ sống, có chức năng vận chuyển nước và muối khoáng.

    Ròng là lớp gỗ màu thẫm, rắn chắc hơn dác, nằm phía trong, gồm những tế bào chết, vách dày có chức năng nâng đỡ cây.
    2.4.2.2. Libe (Phloem)
    - Libe gồm có những yếu tố nào ?
    a. Các yếu tố của libe

    Libe gồm: mạch rây, tế bào kèm, mô mềm libe và sợi libe.
    Hình. Phiến rây
    1. Phiến rây kép; 2. Phiến rây đơn
    - Mạch rây
    Cấu tạo bởi những tế bào sống, chuyên hoá cao gọi là tế bào rây. Vách tế bào mỏng bằng xenlulozơ, trên vách còn có các vùng thủng lỗ đặc biệt gọi là vùng rây, nhiều vùng rây hợp lại trên mọt vách gọi là phiến rây.
    Vách tế bào ở vùng rây có nhiều lỗ nhỏ trong đó chứa đầy các dãy chất tế bào gọi là dãy liên kết làm mạch gây liên kết với nhau, có thể thông với nhau.

    - Mạch rây
    Tế bào rây hình dài, không có nhân, chất tế bào là một lớp mỏng dính sát vào vách, không bào rất lớn chứa nhựa luyện. Các tế bào xếp nối tiếp nhau thành từng dãy.
    Các vách tế bào tận cùng của tế bào rây từ xiên nhiều tới bớt xiên tiến tới nằm ngang, từ phiến rây kép tới phiến rây đơn. Các tế bào rây như vậy gọi là thành phần rây, tập hợp lại thành mạch rây.
    Hình. Cấu tạo mạch rây của thân bí ngô
    1. Mạch rây; 2. Phiến rây; 3. Dải liên kết; 4. Tế bào kèm
    - Tế bào kèm
    Là những tế bào sống, dài, có nhân, vách tế bào mỏng bằng xenlulozơ. Trong thành phần của libe đã chuyên hoá cao, bên cạnh mạch rây, thường có một tới hai tế bào kèm.

    Trong tế bào kèm còn có chất nhày, thể nhày, có khi có cả lạp lục, lạp không màu (không có tinh bột), ti thể, thể lưới và mạng lưới nội chất.
    - Tế bào kèm
    Tế bào kèm có khả năng hình thành các enzim giúp mạch rây thực hiện các phản ứng sinh hoá trong mạch để đảm bảo việc vận chuyển các sản phẩm tổng hợp được.
    - Mô mềm libe

    Mô mềm libe gồm những tế bào sống có vách mỏng bằng xenlulozơ có chức năng tích luỹ tinh bột, dầu và các sản phẩm khác.

    - Sợi libe

    Là các yếu tố cơ học nằm trong phần libe. Tế bào sợi libe hình thoi dài, khoang hẹp, vách dày hoá gỗ hoặc không hoá gỗ, có chức năng nâng đỡ.
    Dựa vào nguồn gốc, ta phân biệt:
    + Sợi libe sơ cấp (sợi libe thật) có nguồn gốc từ tầng trước phát sinh;
    + Sợi libe thứ cấp có nguồn gốc từ tầng phát sinh, thường có chiều dài ngắn hơn sợi sơ cấp.
    - Nguồn gốc của libe sơ cấp và libe thứ cấp.
    - Chiều hướng tiến hoá của libe thứ cấp.
    b. Libe sơ cấp
    Hình thành từ tầng trước phát sinh của mô phân sinh ngọn (mô phân sinh sơ cấp), gồm libe trước và libe sau.
    - Libe trước: thành phần rây chưa phân hoá đầy đủ, không có tế bào kèm. Tế bào không nhân, nhiều chất tế bào, có không bào, có các vùng rây trên phiến rây.
    - Libe sau là yếu dẫn truyền chính trong cấu tạo sơ cấp của cơ quan, chúng tồn tại và hoạt động trong suốt đời sống của các cây có cấu tạo sơ cấp (cây một lá mầm, hai lá mầm thân cỏ). Đối với những cây có cấu tạo thứ cấp thì chúng tồn tại và hoạt động cho đến khi libe thứ cấp được hình thành.
    c. Libe thứ cấp
    Libe thứ cấp được hình thành từ mô phân sinh thứ cấp (tầng sinh trụ), trong cấu tạo thứ cấp của cơ quan. Nó có cấu tạo chuyên hoá, gồm đầy đủ các thành phần: mạch rây, tế bào kèm, sợi, mô mềm và các tia libe. Các tế bào của libe có thể xếp thành tầng hoặc không.
    2.4.2.3. Các bó mạch (bó dẫn)
    * Quan sát hình, so sánh sự sắp xếp khác nhau của các bó mạch?
    Hình. Cấu tạo bó xếp chồng
     A. Bó dẫn kín ở thân tre;
    B. Bó dẫn hở ở thân trầu
    1. Libe; 2. Gỗ; 3. Tế bào mô cứng
    Hình. Bó chồng kép
    1. Mô mềm; 2. Libe ngoài; 3. Tầng phát sinh;
     4. Gỗ; 5. Libe trong
    H. Bó mạch kín ở thân bắp (Zea mays)
    H.. Bó mạch hình chữ V ở thân măng tây
    (Asparagus officinalis)

    a. Bó xếp chồng
    Libe và gỗ xếp chồng lên nhau, tiếp xúc với nhau bởi một mặt, libe ở phía ngoài, gỗ ở phía trong. Bó xếp chồng có hai dạng.
    - Bó mạch kín
    - Bó mạch hở
    b. Bó chồng kép
    Libe và gỗ xếp chồng lên nhau, nhưng có thêm lớp libe ở phía trong, do đó gỗ tiếp xúc với libe ở cả 2 mặt, chúng chỉ có một tầng phát sinh nằm giữa gỗ và libe ngoài.
    Bó chồng kép thường gặp ở các cây trong các họ: Sim, Mã tiền, Bầu bí, Trúc đào, Khoai lang, Cà ....
    c. Bó đồng tâm
    Hình. Bó đồng tâm
    1. Mô mềm; 2. Gỗ; 3. Libe
    c. Bó đồng tâm
    Trong bó này libe bao quanh gỗ (như thân cây dương xỉ) hoặc gỗ bao quanh libe (như trong thân rễ củ gấu (Cyperus rotundus) , thân cây huyết dụ (Cordyline terminalis) ...
    Giữa bó xếp chồng và bó đồng tâm có một bó mạch trung gian là bó mạch hình chữ V với gỗ bao quanh libe gặp ở thân cây măng tây (Asparagus officinallis) .
    d. Bó xuyên tâm
    Ở rễ sơ cấp, các bó gỗ và libe xếp xen kẽ nhau theo hướng xuyên tâm. Đây là loại bó mạch thiếu vì chỉ gồm một yếu tố hoặc gỗ, hoặc libe. Bó mạch thiếu còn gặp ở các gân non của lá, lá đài, cánh hoa ...
    2.5. Mô mềm
    - Định nghĩa mô mềm?
    - Đặc điểm chung của các tế bào mô mềm?
    2.5. Mô mềm
    Cấu tạo bởi những tế bào sống, chưa phân hoá nhiều, vách mỏng bằng xenlulozơ, được giữ suốt đời sống của tế bào. Mô mềm có chức năng liên kết các thứ mô khác nhau, đồng thời còn có chức năng dự trữ hay dinh dưỡng.
    2.5.2. Các loại mô mềm
    2.5.2.1. Mô mềm đồng hoá
    2.5.2.2. Mô mềm dự trữ
    2.5.2.1. Mô mềm đồng hoá

    Cấu tạo bởi những tế bào chứa nhiều lạp lục, thực hiện chức năng quan hợp
    Mô mềm đồng hoá nằm ngay dưới lớp biểu bì của lá và thân non, có khả năng hấp thụ ánh sáng mặt trời để quang hợp.
    Trong phiến lá các cây hai lá mầm, mô mềm đồng hoá gồm mô giậu và mô xốp (hay mô khuyết).


    Hình. Mô mềm đồng hóa ở thịt lá chuối (Musa paradisiaca)
    1. Biểu bì trên; 2. Lớp dưới biểu bì; 3. Mô giậu;
    4. Mô xốp;
    5. Biểu bì dưới; 6. Tế bào của vòng bao quanh bó mạch
    a. Mô giậu
    Cấu tạo bởi những tế bào dài, hẹp xếp thẳng gốc với bề mặt cơ quan, giữa các tế bào mô giậu có những khoảng gian bào nhỏ.
    Vách tế bào mỏng, chứa nhiều hạt diệp lục có chức năng quang hợp.
    b. Mô xốp (hay mô khuyết):
    Gồm các tế bào chứa ít hạt diệp lục hơn mô giậu: hình dạng đồng đều (tròn hay bầu dục), để hở nhiều khoảng gian bào lớn, chứa đầy khí. Ngoài chức năng quang hợp, mô xốp còn tham gia vào quá trình hô hấp, thoát hơi nước và dự trữ khí. Phần màu lục của thân non, mô đồng hoá giống mô giậu ở lá.
    2.5.2.2. Mô mềm dự trữ

    Cấu tạo bởi những tế bào rất đa dạng, có vách mỏng bằng xenlulozơ, ở góc tế bào thường để hở những khoảng gian bào. Chúng có nguồn gốc khác nhau, có mặt ở hầu hết các bộ phận của rễ cây như: rễ thân, thân rễ, quả, hạt.
    2.5.2.2. Mô mềm dự trữ

    Trong các điều kiện sống khác nhau, mô mềm dự trữ các chất khác nhau, thích nghi với điều kiện sống của chúng.
    - Trong điều kiện khô hạn, mô dự trữ nước phát triển, như ở các cây mọng nước (cây xương rồng, thu hải đường, thuốc bỏng ...).

    - Trong điều kiện ngập nước, mô dự trữ khí phát triển, như các cây sống dưới nước (rau dừa nước, rong liễu, rau rút, súng ...).
    Hình . Mô mềm dự trữ
    A. Mô mềm dự trữ khí ở cuống lá súng;
    B. Mô mềm dự trữ tinh bột ở rễ muống biển
    2.6. Mô tiết
    2.6.1. Định nghĩa
    Mô tiết cấu tạo bởi tế bào sống, có vách bằng xenlulozơ, tiết ra các chất “ thải bã” mà cây không dùng đến.
    Chất tiết là chất vô cơ (canxi oxalat, canxi cacbonat), hay chất hữu cơ (axit hữu cơ, chất nhày, chất gôm, nhựa, tinh dầu, cao su, ancaloit, glucozit ...). chúng được thoát ra ngoài hay được tích tụ trong cây.
    2.6.2. Các loại mô tiết
    Có hai loại mô tiết chính là:
    + Mô tiết ngoài (lông tiết, tuyến mật, lỗ nước)
    + Mô tiết trong (tế bào tiết, ống tiết, ống nhựa mủ).
    a. Lông tiết
    Lông tiết có nguồn gốc từ biểu bì hoặc các tế bào nằm sâu hơn, cấu tạo đơn bào hay đa bào.
    Lông tiết bài tiết ra các chất rất khác nhau: tuyến mật ra chất lỏng chứa đường, còn lông ngứa ở các cây trong họ Gai tiết ra các chất axit ... Lông tiết có nhiều ở loại cây như: thuốc lá, cà chua, lá hạn.
    b. Tuyến tiết
    - Tuyến mật: thường có nở hoa, trục cụm hoa như hoa xương rắn, dừa nước, trên cơ quan dinh dưỡng của cây như trên thân lá, lá kèm. Mật hoa được bài tiết qua vách tế bào hoặc qua lỗ khí của tuyến mật. Đó là các lỗ khí đã biến dạng không còn khả năng đóng.
    b. Tuyến tiết
    - Tuyến thơm: có chức năng tiết ra các hương thơm cho các loại hoa. Tuyến thơm có thể được phân hoá từ các bộ phận khác nhau của hoa. Tuyến thơm thường gặp ở các cây thuộc họ thiên lý, lan, na, ngọc anh ... Nhưng ở một số cây trong hoa hoặc cụm hoa có tuyến ra chất thối có tác dụng hấp dẫn ruồi, nhặng như cum hoa ở cây bán hạ, hoa của các cây họ Ráy, hoa của cây không lá (Rafflesia arnoldi).


    a) Tế bào tiết: là những tế bào riêng lẽ, nằm rải rác trong mô mềm và chứa những chất do chính tế bào đó tiết ra như: tinh dầu, tanin, chất nhày, gôm, mirosin và cả tinh thể (túi đá) nữa.
    Về hình dạng và kích thước, tế bào tiết tương tự các tế bào mô mềm ở xung quanh, đôi khi chúng lớn hơn một ít. Tế bào tiết có thể có ở mọi cơ quan của cây: thân (quế, diệp cá, trầu không, gừng ...), lá (long não), rễ (cỏ hương bài) ....
    b. Tuyến tiết
    b) Túi tiết và ống tiết
    - Túi hay ống tiết phân sinh
    Tế bào sinh ra túi hay ống tiết phân chia nhiều lần rồi tách rời nhau ở phía giữa làm thành một khoang trống chứa chất tiết.
    Ví dụ: + túi tiết phân sinh chứa tinh dầu ở các cây bạch đàn, tràm, đinh hương trong họ Sim;
    + ống tiết phân sinh tiết nhựa ở cây thông, ở các cây trong họ hoa tán như rau mùi, cà rốt.
    Hình. Túi tiết
    A. Túi tiết dung sinh; B. Túi tiết phân sinh
    b. Túi tiết và ống tiết
    - Túi hay ống tiết dung sinh
    Tế bào sinh ra túi hay ống tiết phân chia nhiều lần thành một khối, sau đó các tế bào ở giữa bị tiêu huỷ đi, tạo nên một khoảng trống lớn chứa chất tiết lẫn với các mảnh vụng của các tế bào đã bị huỷ.
    Ví dụ như ống tiết chất nhày dung sinh ở cây trầu không, túi tiết dầu thơm của cây gioi, các cây họ cam....
    c. Ống nhựa mủ
    Là những ống dài, hẹp, phân nhánh, chứa nhựa mủ, cấu tạo bởi các tế bào riêng biệt hay nhóm tế bào có khả năng hình thành và tích luỹ nhựa mủ.

    Các ống nhựa mủ hoạt động tiết nhựa đều ở trạng thái sống, thường cấu tạo dạng cộng bào. Khi trưởng thành, nhân bị huỷ hoại, tế bào chất lẫn với nhựa mủ, vách tế bào cấu tạo bằng xenlulozơ, không hoá gỗ, có tính đàn hồi.
    c. Ống nhựa mủ
    Dựa vào cấu tạo, người ta chia ống nhựa mủ thành hai loại:
    - Ống nhựa mủ phân đốt
    - Ống nhựa mủ không phân .
    Trong ống nhựa mủ chứa chất nhựa mủ.
    Nhựa mủ có các màu khác nhau: không màu, trong suốt như ở cây dâu tằm); màu trắng đục như sữa (sung, ngái, xương rồng, xương rắn ...); vàng nâu (cây gai dầu); đỏ (cây thuốc phiện).
    - Thành phần cấu tạo của nhựa mủ gồm các chất hiđrat cacbon, axit hữu cơ, muối, ancaloit, dầu mỡ, chất nhày, cao su, các hạt tinh bột ....
     
    Gửi ý kiến
    print