Nhịp đập thời gian

Tài nguyên dạy học

Giới thiệu VTV3

Kết quả Bóng Đá Anh

Tin mới

Du lịch cùng tôi

Cười cùng tôi

Giáo trình bóng rổ

(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Mai Ngọc Phú (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:28' 13-11-2010
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 114
Số lượt thích: 0 người
Uỷ ban nhân dân tỉnh thanh hoá
trường cao đẳng tdtt
Chương trình môn học

Bóng rổ

( dành cho đối tượng tập huấn lớp hlv trọng tài cơ sở)
I. Khái niệm chung về môn Bóng rổ
* Khái niệm:
Bóng rổ là môn thể thao được thi đấu giữa 2 đội, mỗi đội 5 cầu thủ. Mục đích của mỗi đội là ném bóng vào rổ đối phương và ngăn cản không cho đối phương giành được bóng hay ném bóng vào rổ đội mình. Bóng có thể được chuyền, ném, vỗ, lăn hay dẫn về bất kỳ hướng nào, nhưng phải quân theo những quy định của luật.
* Tính chất
Đây là môn thể thao tập thể, thi đấu đối kháng trực tiếp quyết liệt trên cùng sân.
* Tác dụng: Có 4 tác dụng
- Phát triển thể chất và tinh thần của người tập một cách mau chóng
- Bồi dưỡng lòng dũng cảm, ngoan cường, ý chí quyết chiến, quyết thắng .
- Bồi dưỡng tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật
- Phát huy tính tư duy, sáng tạo trong hoạt động thể thao
Phần I: Nguồn gốc và quá trình phát triển
môn thể thao Bóng rổ
- Tháng 12/1891 G.nâysmit ( sinh 1861 ) giáo viên thể chất của trường huấn luyện Springphild tại bang Massachusets ( mỹ ), ông được giao nhiệm vụ làm sao để cho giờ học thể dục sinh động hơn. Ông đã dựa theo những trò chơi trước đó: là trò chơi Pok tapok của bộ lạc Inka và Maia ( ném bóng vào vòng đá được đính theo chiều thẳng đứng trên tường, và trò chơi Ollamalituli của những người Astek ( ném bóng cao su vào một chiếc vòng làm bằng đá ). Từ những trò chơi đó ông đã sáng tạo ra một trò chơi mới.Ông cho gắn 2 bảng vào ban công của nhà tập, sao cho người chơi không với tới. ở trên 2 bảng đó ông cho buộc 2 chiếc rổ mà người ta dùng để hái đào để làm rổ ném. Ban công của phòng tập thể dục đó có chiều cao 3,05m ( bằng với chiều cao tính từ sân tới mép trên của vòng rổ hiện nay ). Sau đó vì trong lớp có 18 học sinh nên ông đã chia ra làm 2 đội, mỗi đội có 9 người, và cho thi đấu. Người chơi sẽ phải làm sao để ném được bóng vào rổ của đối phương càng nhiều càng tốt. Sau một thời gian số lượng người chơi giảm dần còn 7 người, sau đó là 5 người, vì ông thấy rằng số lượng người chơi đông quá chỉ làm rối trên sân .
II. Sự ra đời của môn bóng rổ
1. Sự xuất hiện ban đầu bóng rổ:
Phần I: Nguồn gốc và quá trình phát triển
môn thể thao Bóng rổ
Và cũng sau một thời gian tập luyện, ông thấy rằng cái rổ hái đào rất bất tiện, vì mỗi khi bóng vào rổ thì lại phải có một người đứng ở đó lấy bóng ra. Vì vậy ông đã cho thay bằng một vòng sắt và có treo túi lưới ( túi lưới đó có một cái dây buộc vào, khi bóng vào rổ chỉ cần dật cái dây đó là quả bóng sẽ tung ra. Nhưng rồi cái túi lưới đó vẫn bị bất tiện, bởi khi bóng vào rổ, vẫn phải có người kéo dây thì mới lấy được quả bóng. Do vậy G.nâysmit cho cắt thủng cái túi lưới ra để khi bóng vào rổ, thì dơi ngay xuống. Như vậy là tác dụng chính của lưới chỉ là để xác định một cách chính xác xem quả bóng có vào rổ hay không mà thôi.
Sau đó do nhận thấy trò chơi này phát triển thể lực cho học sinh rất tốt, mặt khác trò chơi này cũng rất hấp dẫn, nên nó nhanh chóng phát triên lan rộng và dần dần được công nhận là một môn thể thao. Đó là môn Bóng rổ
Phần I: Nguồn gốc và quá trình phát triển
môn thể thao Bóng rổ
II. Sự ra đời của môn bóng rổ
1. Sự xuất hiện ban đầu bóng rổ:
Tháng 12/1891 G.Nâysmit đã soạn thảo những điều luật đầu tiên cho môn bóng rổ và dùng nó để tổ chức các trận đấu. Năm 1892 ông đã cho xuất bản "Sách luật chơi Bóng rổ" gồm 15 điều mà phần lớn những điều ấy dưới hình thức này hay hình thức khác vẫn được tiếp tục sử dụng cho đến ngày nay.
Từ năm 1894 Luật bóng rổ chính thức được xuất bản tại Mỹ, và các cuộc thi đấu đã được tổ chức. Giai đoạn này bóng rổ phát triển rất nhanh, đã xuất hiện chiến thuật tấn công, phòng thủ, định được chức năng, vị trí của từng cầu thủ. Giai đoạn này bóng rổ được phát triển sang các nước: Nhật, Trung Quốc, Philippin rồi sang châu Âu, Nam Mỹ.
Năm 1904 người Mỹ đã tổ chức trận đấu bóng rổ đầu tiên nhân dịp đại hội thể thao toàn quốc Mỹ. Trận đấu này mang tính chất biểu diễn cho các quan khách thưởng thức, và sự hấp dẫn của nó đã trình phục được đông đảo người xem.
a. Giai đoạn 1: ( 1891 - 1918 )
Trong giai đoạn này, bóng rổ đã phát triển từ một trò chơi thành một môn thể thao với tất cả những đặc điểm tiêu biểu của nó
Phần I: Nguồn gốc và quá trình phát triển
môn thể thao Bóng rổ
II. Sự ra đời của môn bóng rổ
2. Các giai đoạn phát triển:
1919, giải bóng rổ quốc tế đầu tiên được tổ chức giữa các đội quân đội của Mỹ, ý, Pháp.
1923 các cuộc thi đấu Bóng rổ quốc tế đầu tiên của nữ được tổ chức ở Pháp giữa các Đội Pháp, ý, Tiệp Khắc.
c. Giai đoạn 3: ( 1932 - 1947 )
Giai đoạn này, Bóng rổ được phát triển rộng rãi trên thế giới.
Sự kiện quan trọng nhất đó là ngày 18-6-1932 Liên đoàn bóng rổ thế giới FIBA đã được thành lập, với 8 thành viên của 8 quốc gia: ý, áchentina, HiLạp, Látvia, Bồ Đào Nha, Rumani, Thuỵ Sỹ, và Tiệp Khắc.
1935 Bóng rổ được công nhận là môn thể thao có trong chương trình thi đấu Ôlympíc. Tại thế vận hội 11 năm 1936 - Béclin ( Đức ), Bóng rổ nam lần đầu tiên được đưa vào thi đấu. Có 21 nước tham dự và Mỹ đã đoạt danh hiệu vô địch.
1938 giải vô địch bóng rổ đầu tiên của nữ Châu Âu được tổ chức tại Rôm ( ý ), và đội nữ ý đã vô địch.
b. Giai đoạn 2: ( 1919 - 1931 )
Đặc điểm tiêu biều của giai đoạn này là các hiệp hội Bóng rổ quốc gia của các nước được thành lập và bắt đầu có các cuộc thi đấu quốc tế
Phần I: Nguồn gốc và quá trình phát triển
môn thể thao Bóng rổ
II. Sự ra đời của môn bóng rổ
2. Các giai đoạn phát triển:
Số lượng thành viên của liên đoàn Bóng rổ thể giới ngày một tăng lên. Năm 1948 Liên đoàn Bóng rổ thế giới FIBA có 50 thành viên. Đến năm 1965 liên đoàn Bóng rổ thế giới FIBA đã có tới 122 thành viên.
Năm 1953, giải vô địch bóng rổ nữ được tổ chức tại Si ri, và đội Mỹ đã đạt chức vô địch.
Để phù hợp với sự phát triển kỹ chiến thuật ngày càng cao, thì lúc này luật 30" và 3" đã được bổ xung.( hiện nay, luật 3" vẫn được sử dụng, còn luật 30" được thay bằng luật 24" . theo đó thì luật 10s cũng được thay bằng luật 8s - do theo luật mới, các trận thi đấu bóng rổ được diễn ra trong 4 hiệp thay vì 2 hiệp như trước đây ).
d. Giai đoạn 4: ( 1948 - 1965 ).
Đây là giai đoạn mà môn bóng rổ phát triển mạnh cả chiều rộng lẫn chiều sâu, thành tích thể thao có sự phát triển mang tính chất nhảy vọt, và có sự tham gia rộng rãi của các nước XHCN
Phần I: Nguồn gốc và quá trình phát triển
môn thể thao Bóng rổ
II. Sự ra đời của môn bóng rổ
2. Các giai đoạn phát triển:
Trong giai đoạn này vào năm 1972, tại đại hội Olympíc lần thứ 20 tổ chức ở Muynich ( cộng hoà liên bang Đức ), Bóng rổ nữ đã được đưa vào chương trình thi đấu.
Và từ đó đến nay phong trào bóng rổ cả Nam và Nữ đều được phát triển mạnh mẽ, lan rộng ra khắp thế giới. Thu hút ngày càng đông các nước đăng ký tham gia trở thành thành viên của Liên đoàn Bóng rổ thế giới FIBA. Năm 1983 số lượng thành viên của Liên đoàn Bóng rổ thế giới là 157 nước.
e. Giai đoạn phát triển tiếp theo của bóng rổ được bắt đầu từ năm 1966.
Phần I: Nguồn gốc và quá trình phát triển
môn thể thao Bóng rổ
II. Sự ra đời của môn bóng rổ
2. Các giai đoạn phát triển:
Môn bóng rổ có ở Việt Nam từ khi nào thì hiện vẫn chưa có tài liệu nào xác định được chính xác, nhưng người ta thấy rằng từ thời Hùng Vương đã có một số trò chơi mang sắc thái tương tự như môn Bóng rổ mà sau này vẫn còn một số địa phương tổ chức như: Trò chơi ném còn ở Lạng Sơn hay vất cầu ở Nghệ An.
Vào khoảng năm 1930 môn Bóng rổ xuất hiện ở nước ta tại một số thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Hà, Huế, Sài Gòn. Bóng rổ được du nhập vào Việt Nam chủ yếu theo binh lính Pháp. Lúc này trình độ của các cầu thủ lạc hậu, thể lực lại yếu, nặng về tư tưởng cay cú ăn thua.
Sau năm 1945 , được Đảng và Chính phủ quan tâm lãnh đạo, phong trào bóng rổ được phát triển
Phần I: Nguồn gốc và quá trình phát triển
môn thể thao Bóng rổ
II. Sự ra đời của môn bóng rổ
3. Sự phát triển bóng rổ Việt Nam:
Từ năm 1957 cho tới năm 1975, ở miền Bắc có tổ chức đều đặn giải Vô địch Bóng rổ hạng A và B cho tất cả Nam và Nữ.
Năm 1955 miền Bắc có 20 đội bóng rổ
*Một số mốc quan trọng cần lưu ý đó là:
- Liên đoàn Bóng rổ Việt Nam được thành lập vào ngày 15/5/ 1992 theo quyết định số 161/NV của Bộ trưởng Bộ nội vụ, với tên gọi Hội Bóng rổ Việt Nam.
- Đến đại hội lần thứ 2 vào tháng 11/1992 tại Hà Nội, Hội Bóng rổ Việt Nam được quyết định đổi tên thành Liên đoàn Bóng rổ Việt Nam, và trở thành thành viên viên của Liên đoàn Bóng rổ thế giới FIBA.
- Năm 1997, Việt Nam tham dự đại hội Liên đoàn Bóng rổ thế giới FIBA tổ chức tại Athen - Hy Lạp và tại Hoa Kỳ năm 2002
Phần I: Nguồn gốc và quá trình phát triển
môn thể thao Bóng rổ
II. Sự ra đời của môn bóng rổ
3. Sự phát triển bóng rổ Việt Nam:
Kỹ thuật Bóng rổ được hình thành trong quá trình phát triển của môn thể thao Bóng rổ, Nó là sự tổng hợp các động tác cho phép giải quyết có hiệu quả nhất các nhiệm vụ thi đấu cụ thể
Trong đó kỹ thuật động tác là chỉ sự kết cấu và phương hướng động tác nhằm giải quyết tốt các nhiệm vụ trong thi đấu, các kỹ thuật động tác được áp dụng trong những điều kiện khác nhau sẽ thúc đẩy và hoàn thiện hàng loạt cách thức thực hiện mỗi một động tác kỹ thuật.
Phần II: Kỹ thuật bóng rổ
Phần II: Kỹ thuật bóng rổ
* Đặc điểm kỹ thuật động tác
Chỉ sự ổn định về kết cấu
Chỉ phương hướng những hoạt động cơ bản
Theo một trình tự ổn định với tiết tấu nhịp nhàng, kỹ thuật Bóng rổ tạo cho cầu thủ có khả năng thực hiện động tác trong mọi tình huống phức tạp của trận đấu trong tấn công cũng như trong phòng thủ đạt kết quả cao. Do đó để đạt được kết quả cao nhất trong thi đấu, đòi hỏi cầu thủ phải nắm vững tất cả các động tác kỹ thuật một cách thành thục và biết lựa chọn những kỹ thuật phù hợp nhất trong những tình huống cụ thể để đạt được kết quả cao. Kỹ thuật bóng rổ hiện đại được hình thành qua các thời kỳ phát triển khác nhau của môn thể thao Bóng rổ, số lượng những kỹ thuật động tác, phương pháp thực hiện nó, những tiêu chuẩn đánh giá cũng thường xuyên được thay đổi và hoàn thiện
Là sự phân chia tất cả những kỹ thuật động tác thành từng phần, từng nhóm trên cơ sở sự ổn định những điểm tương đồng. Số lượng những điểm giống nhau trước hết là căn cứ vào mục đích của kỹ thuật động tác thực hiện trong thi đấu để tấn công hay bảo vệ rổ, nội dung động tác với bóng hay không bóng, đặc biệt là những cử động diễn ra theo trình độ ổn định.
Sự phân chia tạo ra khả năng vạch ra một chương trình đúng về chuẩn bị kỹ thuật cho cầu thủ. Kỹ thuật bóng rổ được chia thành 2 phần lớn đó là: Kỹ thuật tấn công và Kỹ thuật phòng thủ. Mỗi phần lại được chia thành 2 nhóm:
- Phần kỹ thuật tấn công:
+ Nhóm tấn công không bóng
+ Nhóm tấn công có bóng
- Phần kỹ thuật phòng thủ
+ Nhóm kỹ thuật di động
+ Nhóm kỹ thuật cướp, phá, cắt bóng và di động phòng thủ.
Trong mỗi nhóm kỹ thuật lại có nhiều động tác khác nhau. ( Bảng phân loại kỹ thuật )
Phần II: Kỹ thuật bóng rổ
I. Phân loại kỹ thuật
Kỹ thuật Bóng rổ
Kỹ thuật tấn công
Kỹ thuật phòng thủ
Kỹ thuật di động
Kỹ thuật có bóng
Kỹ thuật di động
Kỹ thuật cắt, phá và động tác phòng thủ
đi
Chạy
Nhảy
Dõng
Quay
Bắt
Chuyền
Ném rổ
Dẫn
Tư thế
đi đứng
Chạy
Dừng
Quay

Chắn
Cắt
Cướp
Cướp bóng dưới rổ
Bảng phân loại kỹ thuật bóng rổ
Nhảy
Phần II: Kỹ thuật bóng rổ
I. Phân loại kỹ thuật
Kỹ thuật di động
Kỹ thuật di động là những kỹ thuật di chuyển mà VĐV sử dụng trong quá trình thi đấu như: đi, chạy, nhảy, dừng, quay.
Nhờ có những động tác di động mà các cầu thủ mới có thể chiếm được vị trí đúng, hay thoát khỏi sự cản phá của đổi phương để bắt bóng, chuyền bóng, dẫn bóng hay ném rổ có hiệu quả cao
1. Động tác đi: Trong thi đấu động tác đi chủ sử dụng để thay đổi vị trí trong thời gian ngắn hoặc giảm cường độ thi đấu. Đi trong bóng rổ là kỹ thuật đi trong khi khớp gối hơi gập, vì như vậy mới có thể nhanh chóng tăng tốc độ khi cần thiết.
2. Động tác chạy: Vận dụng chủ yếu trong thi đấu. Kỹ thuật chạy trong bóng rổ khác với kỹ thuật chạy trong Điền Kinh ở chỗ, cầu thủ chạy ở nhiều tư thế khác nhau, phương hướng cũng khác nhau.
Trong Bóng rổ có nhiều động tác chạy khác nhau: Chạy biến tốc, chạy đổi hướng, chạy nghiêng, chạy dừng nhanh . ( Đối với đối tượng sinh viên không chuyên, tập trung nghiên cứu động tác chạy nghiêng )
Động tác chạy nghiêng: Mũi chân và thân dưới hướng theo hướng chạy, thân trên và mặt quay về phía cần quan sát ( phần sân rộng )
A. Kỹ thuật tấn công
Phần II: Kỹ thuật bóng rổ
I. Phân tích kỹ thuật bóng rổ
3. Động tác nhảy: Người ta có thể nhảy bằng 2 chân hoặc 1 chân. Động tác nhảy bằng 2 chân được sử dụng chủ yếu là để cướp bóng dưới rổ. Còn động tác nhảy bằng 1 chân chủ yếu được sử dụng trong kỹ thuật 2 bước ném rổ
Muốn thực hiện nhảy được tốt, trước hết tư thế chuẩn bị phải tốt: Ví dụ: Chi nhảy bằng 2 chân, VĐV gập nhanh khớp gối, 2 tay đánh lăng ra sau, đầu hơi ngẩng lên ( ngửa cổ ). Sau đó chân đạp mạnh đất, duỗi đùi, cẳng chân đồng thời ngửa lưng và đánh lăng mạnh theo hướng ra trước và lên cao.
4. Động tác dừng: Có 2 cách: Động tác dừng bằng 2 bước và động tác dừng bằng nhảy dừng.
- Dừng bằng nhảy dừng: Đang chạy bình thường, muốn dừng bằng nhảy dừng thi dùng 1 chân bật nhảy lên không, khi rơi xuống tiếp đất bằng 2 chân cùng một lúc ( mũi chân tiếp xúc đất đầu tiên ) lúc này lưng hơi ngả ra sau, trọng tâm thấp, gối trùng, hai tay co tự nhiên.
- Dừng bằng 2 bước: Khi đang chạy muốn dừng bằng 2 bước thì ở bước thứ nhất, 1 chân bước lên đặt ra phía ngoài một góc 900 so với hướng chạy, bước thứ 2 đặt bàn chân song song với bàn chân của bước thứ nhất. Chú ý bước 1 dài, bước 2 ngắn hơn, hoàn thành động tác trọng tâm thấp, 2 gối trùng.
Chú ý: Khi thực hiện động tác trọng tâm cơ thể phải được chuyển đúng ( trọng tâm cơ thể dồn vào chân chống )
A. Kỹ thuật tấn công
Phần II: Kỹ thuật bóng rổ
I. Phân tích kỹ thuật bóng rổ
5. Động tác quay: Quay dùng để thoát khỏi đối phương. Căn cứ vào hướng chân tiến hành bước quay và động tác của thân thể, động tác quay được chia ra 2 loại là: quay trước và quay sau. Quay trước là động tác quay về phía gót chân làm trụ; Quay sau là động tác quay về hướng mũi chân làm trụ.
Tư thế chuẩn bị khi quay: Đứng 2 chân song song, rộng bằng vai, gối hơi trùng, trọng tâm thấp, dồn đều vào 2 chân. Khi quay về hướng nào thì chân bên đó làm trụ, lúc này thân trên hơi ngả trước, trọng tâm dồn vào chân trụ. Chân trụ dùng 1/2 bàn chân trên làm trụ, chân còn lại đạp mạnh đất về phía quay đồng thời kết hợp với động tác thân trên. Chú ý trọng tâm không được nhấp nhô khi quay.
A. Kỹ thuật tấn công
Phần II: Kỹ thuật bóng rổ
I. Phân tích kỹ thuật bóng rổ
1. Kỹ thuật tại chỗ ném rổ 1 tay trên cao:
Đây là kỹ thuật tương đối phổ biến, được sử dụng để ném rổ ở các cự ly xa, trung bình, gần và khi ném phạt.
* TTCB: 2 chân đứng trước sau, rộng bằng vai, trọng tâm dồn vào chân trước ( tay nào ném rổ thì chân đó đặt trước ), mũi chân trước hướng thẳng vào hướng rổ, vai song song với vạch phạt, 2 tay cầm bóng trước ngực, bàn tay ném rổ đặt hơi chếch sau bóng, các ngón tay xoè rộng tự nhiên ( lòng bàn tay không chạm bóng ) tay kia đỡ ở cạnh bên của bóng.
* Khi ném: Từ vị trí chuẩn bị, 2 tay đưa bóng theo đường xiên lên trên trán - trước mắt bên tay ném, cách trán từ 5 - 8 cm ( hoặc một nắm đấm ), khi đưa bóng lên, các ngón tay bên tay ném bám chặt vào bóng, lòng bàn tay hướng rổ, khuỷu tay gần vuông góc với mặt phẳng đất. Đồng thời trùng gối hạ thấp trọng tâm, khi khuỵu gối, góc tạo bởi đùi và cẳng chân trước khoảng 1200 - 1350. Lúc này duỗi đùi, duỗi cẳng chân, lực thông qua thân người nâng cánh tay, duỗi cẳng tay. Khi tay gần thẳng hết thì gập cổ tay, miết các ngón tay vào bóng, bóng ra tay cuối cùng là 2 ngón tay trỏ và giữa. Góc độ ra tay của cánh tay so với mặt phẳng đất ? 750.
* Kết thúc động tác: Tay duỗi thẳng, 2 ngón tay trỏ và giữa của tay ném rổ hướng thẳng vào rổ, trọng tâm hơi đổ về trước.
Phân tích kỹ thuật ném rổ
A. Kỹ thuật tấn công
Phần II: Kỹ thuật bóng rổ
I. Phân tích kỹ thuật bóng rổ
2. Kỹ thuật dẫn bóng 2 bước ném rổ 1 tay trên cao.
Khi đang dẫn bóng muốn thực hiện 2 bước ném rổ thì ở lần dẫn cuối cùng thực hiện mạnh hơn bình thường, đồng thời chân nghịch tay ném rổ đạp mạnh đất, chân kia đưa lên cao ra trước, đồng thời 2 tay đưa ra bắt bóng. Khi chân đó chạm đất thì 2 tay kéo bóng về khu trước ngực. Sau đó chân nghịch tay ném rổ bước lên 1 bước, người hơi ngả ra sau đồng thời cùng 1 lúc thực hiện 3 cử động: Duỗi đùi, duỗi cẳng chân, chân bên tay ném rổ nâng cao ra trước ( góc giữa đùi và thân người gần vuông ) và 2 tay cầm đưa bóng lên cao. Khi người bật lên đến điểm cao nhất thì hạ đùi. Lúc này tay ném rổ duỗi thẳng lên cao ra trước. Khi tay gần thẳng hết thì gập cổ tay, miết các ngón tay theo bóng.
Hoàn thành động tác, 2 chân dơi xuống cùng 1 lúc, gối hơi trung xuống để giảm xung lực, tránh chấn thương.
A. Kỹ thuật tấn công
Phần II: Kỹ thuật bóng rổ
I. Phân tích kỹ thuật bóng rổ
Phần III: Các điều luật chủ yểu
* Luật bóng rổ quy định: Mỗi đội bóng có tối đa 12 VĐV, đeo số áo quy định từ 4 đến 15. Trong đó có 5 VĐV chính thức và 7 VĐV dự bị. Khi thi đấu trong sân, mỗi đội chỉ có 5 VĐV. Một trận thi đấu bao gồm 40 phút, chia làm 4 hiệp, mỗi hiệp 10 phút. Thời gian nghỉ giữa hiệp 1 và 2 bằng thời gian nghỉ giữa Hiệp 3 và 4 và bằng 2 phút. Thời gian nghỉ giữa hiệp 2 và 3 là 10 phút.
Mục đích của mỗi đội là ném bóng vào rổ đối phương và ngăn cản đối phương ném bóng ghi điểm vào rổ mình. Sau 40 phút thi đấu nếu đội nào ghi được số điểm nhiều hơn sẽ là đội thắng cuộc. Nếu sau thời gian thi đấu chính thức 2 đội bằng điểm nhau thì sẽ cho thi đấu các hiệp phụ cho đến khi có sự chênh lệch về điểm. Thời gian cho mỗi hiệp phụ là 5 phút.
Phần III: Các điều luật chủ yểu
1. Trang thiết bị
Sân bóng rổ là mặt phẳng cứng hình chữ nhật, trên mặt phẳng không có chướng ngại vật. Sân thi đấu tiêu chuẩn quốc tế, có chiều dài 28 m và rộng 15 m, tính từ mép trong của đường biên. Các đường giới hạn trên sân phải rõ ràng và rộng 5cm. Chiều dài của sân được gọi là đường biên dọc, chiều rộng được gọi là đường biên ngang.

I. Luật về sân bãi, dụng cụ:
Dài 28 m
Rộng 15m
2. Các khu vực trong sân:
- Vòng tròn giữa sân có bán kính 1,8m tính từ mép ngoài của vòng tròn.
- Đường giữa sân là đường thẳng nối 2 điểm giữa của đường biên dọc và được kéo dài thêm 15cm mỗi bên, tính từ mép ngoài của đường biên dọc. Đường giữa sân tạo ra sân trước và sân sau. Phía sân của một đội mà đang bảo vệ rổ gọi là sân sau của đội đó ( tính cả vạch giữa sân ) , còn phía sân mà đội đang tấn công ném rổ được gọi là sân trước.
- Khu ném rổ 3 điểm tính:
Từ điểm chiếu của tâm Vòng rổ xuống mặt sân, quay một cung nửa đường tròn có bán kính r = 6,25m. Còn lại kẻ 2 đường thẳng song song với đường biên dọc tới đường biên ngang ( đoạn đó dài 1,575 cm )
Phần III: Các điều luật chủ yểu
I. Luật về sân bãi, dụng cụ:
Phần III: Các điều luật chủ yểu
I. Luật về sân bãi, dụng cụ:
- Khu vực 3 giây và các vạch quy định cho các đấu thủ đứng khi ném phạt
Phần III: Các điều luật chủ yểu
I. Luật về sân bãi, dụng cụ:
3. Bảng rổ:
* Bảng: làm bằng gỗ cứng hoặc chất liệu phù hợp, có độ dày 2 - 3cm. Chiều ngang của bảng rổ là 1,80m chiều cao là 1,05m.
- Các vạch vẽ trên bảng đều rộng bằng nhau là 5cm có màu khác với màu của bảng.
- Bảng1.80m59 cm45 cm1.05 m
rổ được đặt sao cho mép dưới của bảng cách mặt phẳng đất là 2.90m.


Phần III: Các điều luật chủ yểu
I. Luật về sân bãi, dụng cụ:
* Rổ: Gồm vòng rổ và lưới.
- Rổ được làm bằng sắt đặc có đường kính từ 1,6 đến 2cm. Đường kính vòng rổ là 45cm tính từ mép trong. Rổ được gắn vào bảng sao cho khoảng cách từ mặt phẳng đất tới mép trên của vòng rổ cao 3.05m.
- Lưới được gắn vào rổ ở 12 vị trí cách đều nhau chung quanh vòng rổ. Chiều dài của lưới không ngắn hơn 40cm và không dài hơn 45cm.
Phần III: Các điều luật chủ yểu
I. Luật về sân bãi, dụng cụ:
4. Bóng : Hình cầu, màu da cam sáng, có 8 miếng ghép truyền thống và có đường nối màu đen. Ngoài ra có loại bóng có 12 miếng ghép. Có 2 cỡ bóng dùng cho Nữ và Nam.
- Bóng nam ( Bóng số 7): Chu vi bóng từ 74.9cm đến 78cm. Trọng lượng bóng từ 567gr đến 650gr.
- Bóng nữ ( Bóng số 6): Chu vi bóng từ 72,4cm đến 737cm. Trọng lượng từ 510 gr đến 567 gr
Phần III: Các điều luật chủ yểu
II. Một số luật thi đấu cơ bản
1. Luật phát bóng biên
1.1. Định nghĩa: Một quả phát bóng biên diễn ra khi bóng được chuyền vào trong sân bởi 1 cầu thủ đứng ở ngoài đường biên.
1.2. Thủ tục:
- Quả phát biên được thực hiện tại điểm gần nhất nơi mà trận đấu bị dừng lại, trừ khu vực phía sau bảng rổ.
- Cầu thủ phát biên đứng ở vị trí trọng tài chỉ định, sau đó trọng tài trao bóng cho VĐV đó.
- Các quả phát biên bắt đầu các hiệp đấu tiếp theo hoặc các quả phát biên sau khi có lỗi kỹ thuật, lỗi phản tinh thần thể thao hay lỗi truất quyền đều được thực hiện ở đường giữa sân đối diện bàn thư ký. VĐV phát biên phải đứng mỗi chân một bên sân và có thể chuyền bóng bóng cho đồng đội ở bất kỳ vị trí nào trên sân.
- Bất cứ khi nào bóng vào rổ nhưng bàn thắng hay quả ném phạt không được tính điểm thì quả phát bóng biên sẽ được thực hiện ở đường ném phạt kép dài.
- Cầu thủ của đội bị bóng vào rổ có thể phát bóng biên tại bất kỳ điểm nào ở ngoài đường cuối sân nơi bóng vào rổ. Điều này được áp dụng cả sau khi hội ý hoặc ngừng trận đấu sau khi bàn thắng được ghi.
Phần III: Các điều luật chủ yểu
II. Một số luật thi đấu cơ bản
1. Luật phát bóng biên
1.3. Điều luật
* Cầu thủ phát bóng biên không được:
- Giữ bóng quá 5s trước khi bóng rời tay
- Bước vào trong sân khi bóng còn giữ trên tay
- Để bóng chạm ngoài đường biên sau khi đã thực hiện động phát bóng biên.
- Chạm bóng khi bóng ở trong sân trước khi bóng chạm 1 cầu thủ khác
- Trực tiếp ném bóng vào rổ
- Di chuyển hơn 1m hay di chuyển xa ngoài vị trí trọng tài chỉ định trước hay trong khi bóng rời tay. Tuy nhiên có thể lùi về phía sau từ đường biên bao nhiêu cũng được.
1.4. Các cầu thủ khác sẽ không:
- Không được có bộ phận nào của cơ thể ra ngoài đường biên trước khi bóng được chuyền qua đường biên
- Không được đứng gần cầu thủ phát biên dưới 1m.
1.5. Xử phạt:
Bóng được trao cho đối phương phát bóng biên ở ngay vị trí vừa phát bóng biên vào sân.
Phần III: Các điều luật chủ yểu
II. Một số luật thi đấu cơ bản
2. Luật chạy bước:
2.1. Khái niệm: Một đấu thủ cầm bóng tiến về bất kỳ hướng nào mà quá số bước quy định theo luật gọi là phạm luật chạy bước.
2.2. Những trường hợp phạm luật chạy bước:
a. Khi cầm bóng sống chạy quá 2 bước:
- Cách tính bước 1: Khi đứng tại chỗ, trên không bắt bóng rơi xuống đất bàng 1 chân hoặc 2 chân cùng 1 lúc coi như hoàn thành bước 1.
b. Khi tại chỗ bắt bóng ( 2 chân chạm đất ) thì cả 2 chân đều có thể làm chân trụ. Khi nhấc 1 chân lên, thì chân còn lại sẽ trở thành chân trụ, nếu dẫn bóng thì bóng phải rời tay trước khi chân trụ rời khỏi đất.
c. Chân trụ không được luân phiên chạm đất bằng gót chân, sau bằng mũi chân . khi thực hiện quay người.
d. Khi đã bắt bóng hợp lệ, có thể rời chân trụ khỏi đất nhưng bóng phải được rời khỏi tay trước khi chân trụ chạm đất lần nữa
e. Bắt bóng tại chỗ, nếu bất nhảy lên không, thì bóng phải rời tay trước khi chân chạm đất. Nếu khi chân chạm đất mà tay vẫn giữ bóng là phạm luật chạy bước
Phần III: Các điều luật chủ yểu
II. Một số luật thi đấu cơ bản
2. Luật chạy bước:
2.3. Cách xử lý của trọng tài:
Trọng tài thổi còi, ra ký hiệu dừng đồng hồ ( 1 tay đưa thẳng lên trên, các ngón tay thẳng ép sát vào nhau ) và ký hiệu chạy bước ( 2 tay quay tròn đuổi nhau từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài ). Sau đó trọng tài trao bóng cho đối phương của đội phạm luật phát bóng biên ở đường biên dọc gần nhất nơi phạm luật. ( trừ trường hợp phạm luật xảy ra trong khu vực hình thang tưởng tượng có đáy lớn là đường biên ngang cuối sân và đáy nhỏ là vạch ném phạt sẽ cho phát bóng biên ở đường biên ngang cuối sân)
Trình tự xử lý và ký hiệu của trọng tài
Phần III: Các điều luật chủ yểu
II. Một số luật thi đấu cơ bản
3. Luật 2 lần dẫn bóng:
3.1. Khái niệm: Một VĐV khi bắt được bóng, rồi thực hiện động tác dẫn bóng, lăn bóng, hất bóng đi . rồi lại tiếp tục bắt bóng. Sau đó tiếp tục thực hiện lại các động tác đó thì phạm luật 2 lần dẫn bóng.
3.2. Những trường hợp phạm luật 2 lần dẫn bóng:
a. Khi đang dẫn bóng lại hất bóng liên tục trên không rồi bóng mới chạm đất thi phạm luật.
b. Khi đang dẫn bóng, dùng 2 tay tiếp xúc bóng cùng 1 lúc là phạm luật ( trừ trường hợp khi bắt đầu dẫn bóng có thể sử dụng 1 hoặc 2 tay đập bóng )
c. Dẫn bóng để lòng bàn tay ngửa khi tiếp xúc bóng là phạm luật
d. Những trường hợp đặc biệt không phạm luật:
- Khi dân bóng, nếu tay không tiếp xúc bóng thì số bước chạy không giới hạn
- Khi có động tác ném rổ, bóng chạm bảng rổ, hay vành rổ sau bắt được bóng thì có thể dẫn bóng.
3.3. Cách xử lý và ký hiệu trọng tài
Khi có phạm luật, trọng tài thổi còi ra ký hiệu dừng đồng hồ, sau ra ký hiệu phạm luật 2 lần dẫn bóng ( 2 bàn tay sấp luân phiên đưa lên đưa xuống )
- Xử lý : Trọng tài trao bóng cho đối phương của đội phạm luật phát bóng biên tại đường biên gần nhất.
Trình tự xử lý và ký hiệu của trọng tài
Bước 1
Bước 3
Bước 2
Phần III: Các điều luật chủ yểu
II. Một số luật thi đấu cơ bản
4. Luật về lỗi va chạm:
* Khái niệm: Một VĐV va vào thân thể VĐV đối phương khi không, hoặc có bóng làm ảnh hưởng đến động tác tự do ( theo luật ) của đối phương thì phạm lỗi
a. Khi không có bóng phạm lỗi va chạm:
- Phòng thủ phía sau người có bóng để xảy ra va chạm
- Phòng thủ có những hành động thô bạo như: Chèn, đẩy, huých, giang tay, ôm, kéo người khi đối phương đứng gần.
- Phòng thủ chạm vào tay người có bóng
- Sau khi chuyền bóng do lỡ đà và gây va chạm
- Đứng sát đối phương quá mức, xâm phạm phạm vi hình trụ của đối phương
- VĐV chủ tâm bỏ bóng đánh người
- Cản đường tiến của đối phương bằng cách di chuyển đột ngột, khi không hay có bóng mà không tránh được va chạm là phạm lỗi
Phần III: Các điều luật chủ yểu
II. Một số luật thi đấu cơ bản
4. Luật về lỗi va chạm:
b. Khi có bóng phạm lỗi va chạm:
- VĐV dẫn bóng qua giữa 2 đối phương đứng gần sát nhau gây ra va chạm là phạm lỗi
- Khi có bóng, cố tình lao vào đối phương đang đứng là phạm lỗi.
* Xử lý :
+ Lỗi đối với VĐV không có bóng hoặc không có động tác ném rổ thì cho phát bóng thì ghi lỗi cho cầu thủ phạm lỗi và cho đối phương phát bóng biên ở đường biên gần nhất
+ Lỗi đối với cầu thủ đang có động tác ném rổ, Nếu bóng vào rổ thì tuỳ vị trí ném rổ mà tính 2 hoặc 3 điểm sau đó người bị phạm lỗi được ném thêm 1 quả phạt. Còn nếu bóng không vào rổ, thì được ném 2 hoặc 3 quả ( tuỳ vị trí ném rổ ).
+ Nếu số lỗi đồng đội vượt quá 4 lỗi trong 1 hiệp đấu, thì đối phương sẽ được ném phạt 2 quả. ( trừ trường hợp có động tác ném rổ )
+ VĐV phạm 5 lỗi cá nhân sẽ bị truất quyền thi đấu.
Trình tự xử lý và ký hiệu của trọng tài
Bước 1: Thổi còi, ra ký hiệu phạm lỗi
Bước 2: Báo lỗi:
Báo số áo VĐV phạm lỗi
Báo tính chất lỗi
Xác định hướng tấn công tiếp theo
Phần IV: Phương pháp tổ chức thi đấu
I. Mục đích, ý nghĩa
Căn cứ vào tính chất giải mà mục đích được đặt ra khác nhau. Những đặc trưng nổi bật của thi đấu là:
- Nâng cao sức chịu đựng của cơ thể
- Bồi dưỡng lòng dũng cảm, ngoan cường
- Nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết giữa các dân tộc. Một ý nghĩa hết sức quan trọng của thi đầu thể thao là : thể thao là sứ giả của hoà bình
Phần IV: Phương pháp tổ chức thi đấu
II. Cơ cấu ban tổ chức
Phần IV: Phương pháp tổ chức thi đấu
III. Nội dung điều lệ giải
1. Cấp tổ chức giải
2. Tên giải
3. Mục đích, ý nghĩa
4. Nhiệm vụ và yêu cầu
5. Thời gian và địa điểm
6. Đối tượng, điều kiện tham dự giải, tư cách đạo đức VĐV, đẳng cấp, tuổi
7. Thời gian đăng ký danh sách VĐV
8. Địa điểm họp bốc thăm
9. Hình thức tổ chức thi đấu
10. Khen thưởng và kỷ luật
11. Chế độ bồi dưỡng và sinh hoạt
Phần IV: Phương pháp tổ chức thi đấu
IV. Các hình thức tổ chức thi đấu:
Gồm có một có một số hình thức tiến hành thi đấu cơ bản sau:
- Đấu loại trực tiếp: 1 lần thua và 2 lần thua
- Đấu vòng tròn: Vòng tròn đơn và vòng tròn kép
- Thi đấu hỗn hợp ( trực tiếp trước, vòng tròn sau - hoặc ngược lại )
Người ta sẽ căn cứ vào số người, số đội tham gia thi đấu, thời gian tổ chức thi đấu, nhiệm vụ thi đấu, sân bãi, phương tiện giao thông đi lại để ấn định hình thức thi đấu.
Phần IV: Phương pháp tổ chức thi đấu
IV. Các hình thức tổ chức thi đấu:
1. Hình thức thi đấu loại trực tiếp:
a. Loại trực tiếp 1 lần thua
a.1. Nguyên tắc: Là đội nào bị thua một lần sẽ bị loại ngay khỏi giải, không được thi đấu tiếp.
a.2. Cách vẽ sơ đồ:
* Khi vẽ biểu đồ cần chú ý, nếu số đội tham gia đúng bằng 2n (a=2n)
như 4, 8, 16 .) thì biểu đồ thi đấu được vạch đơn giản.
VD: Vẽ biểu đồ thi đấu loại trực tiếp 1 lần thua có 8 đội tham gia:
Phần IV: Phương pháp tổ chức thi đấu
IV. Các hình thức tổ chức thi đấu:
1. Hình thức thi đấu loại trực tiếp:
a. Loại trực tiếp 1 lần thua
*Nếu số đội tham gia thi đấu không đúng bằng 2n ( a ? 2n ) thì phải
có trận đấu phụ, để đến vòng 2 còn lại số đội đúng bằng 2n
* Công thức tính số đội phải tham gia trận đấu phụ:
X = ( a - 2n )2 trong đó: X: là số đội phải thi đấu trận phụ
a: là tổng số đội tham gia thi đấu
2n : Là luỹ thừa của 2 để được một số gần nhất và nhỏ hơn số đội tham gia.

* Cách tính tổng số trận đấu:
Dùng công thức Y = a - 1
Trong đó: Y : là tổng số trận đấu
A : Là số đội tham gia
Phần IV: Phương pháp tổ chức thi đấu
IV. Các hình thức tổ chức thi đấu:
1. Hình thức thi đấu loại trực tiếp:
a. Loại trực tiếp 1 lần thua
VD: Vẽ biểu đồ thi đấu trực tiếp 1 lần thua cho 10 đội tham gia.
Tính trận đấu phụ:
X = ( a - 2n )2 ? X = ( 10 - 8 )2 = 4
Tổng số trận đấu : Y = a - 1 ? Y = 10 - 1 = 9
Phần IV: Phương pháp tổ chức thi đấu
IV. Các hình thức tổ chức thi đấu:
1. Hình thức thi đấu loại trực tiếp:
b. Loại trực tiếp 2 lần thua
b.1. Nguyên tắc: Là đội nào bị thua 2 lần sẽ bị loại khỏi giải
b.2. Cách vẽ sơ đồ:
- Phần biểu đồ cơ bản - giống biểu đồ thi đấu loại trực tiếp 1 lần thua
- Phần biểu đồ bổ xung - Được đặt dưới biểu đồ cơ bản để các đội đã thua 1 lần sẽ đấu thêm trận tiếp theo.
c. Cách tính tổng số trận đấu
Y = 2( a - 1 ) Trong đó : Y : Tổng số trận đấu
A : Số đội đấu
* Ưu nhược điểm
- Ưu điểm: Đánh giá tương đối chính xác trình độ của các VĐV hoặc các đội
- Nhược điểm: Số trận đấu nhiều hơn 1 lần thua nên lập biểu đồ thi đấu tương đối phức tạp, Vì vậy hình thức này hiện nay ít được sử dụng hoặc chỉ sử dụng khi số đội tham gia thi đấu đúng bằng 2n .
Phần IV: Phương pháp tổ chức thi đấu
IV. Các hình thức tổ chức thi đấu:
1. Hình thức thi đấu loại trực tiếp:
b. Loại trực tiếp 2 lần thua: VD: Vạch biểu đồ thi đấu loại trực tiếp 2 lần thua cho 8 đội. Vì 8 đội đúng bằng 2n nên không có trận đấu phụ.
Y = ( 8 ? 2 ) - 2 = 14 trận
Phần IV: Phương pháp tổ chức thi đấu
IV. Các hình thức tổ chức thi đấu:
2. Hình thức thi đấu vòng tròn tính điểm 1 lượt và 2 lượt
- Công thức tính:
+ Công thức tính số trận đấu :
Trong đó: y: là tổng số trận đấu
a: là số đội tham gia
+ Công thức tính số vòng đấu ( V )
Nếu số đội ( a ) là chẵn thì V = a - 1
Nếu số đội ( a ) là lẻ thì V = a
- Vẽ sơ đồ và lịch thi đấu:
Căn cứ vào số đội tham gia thi đấu ( a ) là lẻ hay chẵn để xác định số vòng đấu. Nếu số đội là lẻ thì trong sơ đồ thi đấu lấy ? làm mốc để quay ( Quay ngược chiều kim đồng hồ ), những đội gặp ? sẽ được nghỉ. Sau đó vạch từng cặp theo số tự nhiên từ 1 đến hết
Phần IV: Phương pháp tổ chức thi đấu
IV. Các hình thức tổ chức thi đấu:
2. Hình thức thi đấu vòng tròn tính điểm 1 lượt và 2 lượt
Ví dụ: Vẽ sơ đồ thi đấu vòng tròn 1 lượt cho 6 đội tham gia
Theo công thức có : D = a - 1 ? D = 6 - 1 = 5 Vòng
a(a-1) 6( 6 - 1 )
X= ? X= = 15 trận
2 2
Vẽ sơ đồ:
Phần IV: Phương pháp tổ chức thi đấu
IV. Các hình thức tổ chức thi đấu:
2. Hình thức thi đấu vòng tròn tính điểm 1 lượt và 2 lượt
Ví dụ: Vẽ sơ đồ thi đấu vòng tròn 1 lượt cho 5 đội tham gia
Số đội tham gia: a = 5
Số vòng đấu: V = a = 5
Vẽ sơ đồ:
Xin chân thành cảm ơn !
Chúc các bạn thành công
 
Gửi ý kiến
print

Tra điểm thi Đại Học

Mèo bắt Chuột

Clich cho chuột ăn đói quá »